lời mở đầu, khóa luận bao gồm 3 chương chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan khủng hoảng tiền tệ và các mô hình cảnh báo khủng hoảng tiền tệ trên thế giới Chƣơng 2: Xây dựng mô hình cảnh báo khủng hoảng tiền tệ cho Việt Nam Chƣơng 3: Đánh giá các mô hình dự báo khủng hoảng tiền tệ và khuyến nghị cho Việt Nam 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ VÀ CÁC MÔ HÌNH CẢNH BÁO KHỦNG HOẢNG TIỀN TỆ TRÊN THẾ GIỚI 1. Khủng hoảng tiền tệ 1. Khủng hoảng tài chính và phân loại Khủng hoảng tài chính một cách tổng quát có thể hiểu là những tình huống mà tại đó, tất cả hoặc hầu hết các chỉ tiêu tài chính của một nền kinh tế quốc gia bị xấu đi một cách rõ ràng và nhanh chóng, các định chế tài chính và tài sản tài chính đột ngột bị mất đi một phần lớn giá trị của chúng. Khủng hoảng tài chính có thể được biểu hiện dưới một số dạng khủng hoảng đặc thù dưới đây: Khủng hoảng tiền tệ “…Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiền nội tệ làm suy giảm mạnh nguồn ngoại tệ và làm đồng tiền nội tệ mất giá nhanh chóng buộc các cơ quan quản lý phải có các biện pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ ngoại hối lớn để bình ổn tỷ giá hoặc nâng cao mức lãi suất hiện có…”.
Khủng hoảng tiền tệ có thể diễn ra cùng lúc hoặc kéo theo các dạng khủng hoảng khác, ví dụ khủng hoảng ngân hàng như trong cuộc khủng hoảng khu vực Đông Á, năm 1997, hay khủng hoảng nợ như đã xảy ra tại các quốc gia Argentina, Ecuado và Nga. Các tình trạng đó được gọi là “khủng hoảng kép”. Khủng hoảng tiền tệ đã trải qua bốn thế hệ khủng hoảng với các nguyên nhân khác nhau nhưng hầu hết đều xảy ra với việc đồng tiền quốc gia bị phá giá mạnh khi chế độ tỷ giá cố định được áp dụng như được trình bày cụ thể trong phần tiếp theo. Khủng hoảng ngân hàng Cũng theo IMF, 1998 “…Khủng hoảng ngân hàng là tình huống mà tại đó ngân hàng lâm vào tình trạng bị rút tiền ồ ạt và không còn khả năng thanh toán các khoản nợ buộc chính phủ phải can thiệp ngăn không cho tình trạng đó lan ra trên diện rộng gây thiệt hại tới nền kinh tế, làm tê liệt hệ thống ngân hàng…” Theo định nghĩa này thì khủng hoảng ngân hàng là khủng hoảng liên quan đến khả năng thanh toán tiền mặt và có trả được nợ hay không của ngân hàng.
Khủng hoảng tiền mặt là tại một thời điểm cụ thể, ngân hàng không còn đủ nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu rút tiền của chủ nợ hoặc người cho vay thậm chí khi 6 giá trị tài sản ròng của nó vẫn dương. Khủng hoảng liên quan tới khả năng trả nợ của ngân hàng là tình trạng giá trị hiện tại của nợ lớn hơn giá trị hiện tại tài sản của nó và hệ quả là ngân hàng sẽ bị phá sản. Khủng hoảng nợ Đa số các nghiên cứu về khủng hoảng nợ đều thống nhất rằng khủng hoảng nợ là tính huống một quốc gia phải đề nghị thương thảo lại về các thỏa thuận vay nợ, hoãn trả lãi và vốn gốc do nước này không có khả năng trả nợ nước ngoài, bao gồm cả các khoản nợ của chính phủ khi phát hành trái phiếu chính phủ, vay nợ nước ngoài… để đầu tư hay tài trợ thâm hụt ngân sách, cả khoản nợ của các doanh nghiệp, ngân hàng… và phải nhận một khoản hỗ trợ chính thức lớn của IMF. Như vậy, khủng hoảng tiền tệ chỉ là một trong nhiều loại khủng hoảng tài chính đã xảy ra trên thế giới khác biệt với các loại khủng hoảng tài chính cơ bản khác như: khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng nợ.
Trọng tâm nghiên cứu của bài sẽ đi sâu vào khủng hoảng tiền tệ và xây dựng mô hình cảnh báo loại khủng hoảng này, theo đó định nghĩa về khủng hoảng tiền tệ được IMF đưa ra trên đây sẽ được dùng như định nghĩa khủng hoảng tiền tệ cho toàn bài nghiên cứu. Các thế hệ khủng hoảng tiền tệ 1. Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất Dựa trên các kết quả nghiên cứu của Salant và Henderson (1978), Paul Krugman (1979) và sau đó là Flood và Garber (1984) đã phát triển lên mô hình lý thuyết khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất và được dùng để giải thích cho các cuộc khủng hoảng xảy ra tại một số nước Châu Mỹ Latin vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu những năm 1980 mà điển hình là khủng hoảng Bolivian 1982-1985, khủng hoảng Brazil 1983, 1986 và 1989-1990, khủng hoảng Chilean 1971-1974, khủng hoảng Peruvian 1976 và 1987 và khủng hoảng Uruguayan 1982. Trọng tâm của các nghiên cứu này là các chính sách kinh tế vĩ mô thiếu bền vững và không phù hợp khi kết hợp với chế độ tỷ giá hối đoái cố định dẫn tới sự bùng nổ của một cuộc khủng hoảng tiền tệ.
Nội dung lý thuyết khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất Bắt đầu từ việc chính phủ duy trì một tỷ giá hối đoái cố định – chính phủ có thể bảo vệ tỷ giá này bằng cách can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối (trực 7 tiếp mua hoặc bán ngoại tệ). Trong một thị trường tài chính bị áp chế, lãi suất được kiểm soát ở dưới mức cân bằng để giảm chi phí cho vay, thâm hụt ngân sách duy trì ở mức lớn, một cú sốc như: chi tiêu chính phủ tăng cao được tiền tệ hóa thông qua tăng trưởng tín dụng trong nước sẽ dẫn đến những thay đổi trong cung tiền, gia tăng lạm phát và làm mất giá đồng tiền quốc gia. Các nhà đầu tư và cư dân có xu hướng găm giữ ngoại tệ gây áp lực lên tỷ giá. Khi đó, để duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định vốn có, Ngân hàng Trung ương sẽ buộc phải bán ngoại tệ.
Lượng dự trữ quốc gia giảm dần đến mức không thể đáp ứng nhu cầu sử dụng ngoại tệ của các khu vực kinh tế khác nhau. Kết quả là chính phủ phải phá giá nội tệ, tạo lập mức cân bằng mới cho tỷ giá. Theo quan sát của Krugman, trước thời điểm đồng nội tệ bị phá giá, các nhà đầu cơ có thể phán đoán chính xác về khả năng mất giá của đồng nội tệ khi quan sát các chỉ số kinh tế vĩ mô như mức chi tiêu của Chính phủ và tốc độ tăng trưởng cung tiền. Do đó, các nhà đầu cơ sẽ bán nội tệ, mua ngoại tệ để tránh những tổn thất khi mất giá xảy ra.
Hành động đồng thời của họ (bán nội tệ và mua ngoại tệ) trong bối cảnh bất ổn kinh tế vĩ mô sẽ là một cuộc tấn công đầu cơ vào nội tệ và khiến dự trữ ngoại hối sụt giảm nhanh hơn, sự phá giá xảy ra sớm hơn.1:Sơ đồ truyền dẫn tác động dẫn tới khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất (Krugman) Môi trƣờng kinh tế: Chính sách kinh tế vĩ mô thiếu bền vững và duy trì chế độ tỷ giá cố định Nguồn: Bài giảng khủng hoảng tiền tệ của thầy Nguyễn Xuân Thành, 2008 8 Nguyên nhân gây ra khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất: Như vậy, theo quy trình truyền dẫn tác động trên đây đã phân tích, mâu thuẫ trong các chính sách điều hành của chính phủ, bản chất yếu kém của một nền kinh tế chính là nguyên nhân của khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ nhất này. Sự yếu kém này có thể nhận biết qua các chỉ số như: thâm hụt ngân sách, cung tiền, tín dụng nội địa, thâm hụt tài khoản vãng lai, lãi suất quốc tế, dòng vốn nước ngoài… 1. Khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai Các mô hình thuộc thế hệ thứ hai của khủng hoảng tiền tệ bắt đầu bằng nghiên cứu của Obstfeld (1986) và được dùng để giải thích cho hai cuộc khủng hoảng tiêu biểu trong thực tế là: khủng hoảng hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1992 và khủng hoảng đồng Peso Mexico năm 1994. Mô hình khủng hoảng tiền tệ của Krugman đưa ra một cách giải thích khá thuyết phục về quá trình sụp đổ của chế độ tỷ giá cố định khi dự trữ ngoại tệ cạn kiệt.
Tuy vậy, trong thực tế, rất nhiều cuộc khủng hoảng, đặc biệt ở những nền kình tế phát triển, đã xảy ra khi chính phủ có đủ dự trữ để bảo vệ tỷ giá. Do đó, khắc phục những yếu điểm của mô hình Krugman, trong mô hình lý thuyết khủng hoảng tiền tệ của mình, Obstfeld cho rằng khủng hoảng tiền tệ không xuất phát từ yếu tố kinh tế căn bản mà nó tự hoàn thành và lây lan theo cơ chế kì vọng. Cụ thể, chính phủ và các nhà đầu cơ có nhiều lựa chọn để hành động, khi kỳ vọng của họ gắn kết với nhau theo hướng gây ra khủng hoảng sẽ dẫn đến một cuộc khủng hoảng thực sự tự phát sinh. Mô tả diễn biến khủng hoảng tiền tệ thế hệ thứ hai Obstfeld nhấn mạnh rằng một nước có thể phải thỏa hiệp (hi sinh một lợi ích nào đó) giữa hàng loạt các mục tiêu chính sách được thực hiện, ví dụ như lạm phát và thất nghiệp phải đối mặt với đường cong Phillips_ lạm phát thấp và tỷ lệ thất nghiệp cao hoặc lạm phát cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Tương tự như vậy khi xác định trạng thái cân bằng của thị trường với các chế độ tỷ giá khác nhau. Tỷ giá cố định gây áp lực gia tăng lãi suất để bảo vệ tỷ giá, làm giảm tỷ lệ lạm phát nhưng đi kèm với tỷ lệ thất nghiệp cao. Ngược lại tỷ giá thả nổi có thể giảm lãi suất và giúp thúc đẩy tăng trưởng, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Nếu không có tác động gì thì trạng thái cân bằng có thể duy trì và mở ra trạng thái cân bằng đa phương.
9 Đứng trước các trạng thái cân bằng (có cả lợi ích và chi phí), chính phủ có thể lựa chọn bảo vệ tỷ giá hoặc thả nổi tỷ giá. Các nhà đầu cơ cũng có hai lựa chọn: tấn công vào đồng nội tệ hoặc là không. Tại một thời điểm nào đó, nếu thấy chi phí bỏ ra để bảo vệ tỷ giá là quá lớn, các nhà đầu cơ có thể kì vọng chính phủ sẽ thả nổi tỷ giá để không gây sức ép lớn lên lãi suất, tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ thất nghiệp. Kỳ vọng này làm các nhà đầu cơ đó và kéo theo nhiều nhà đầu tư khác đồng loạt bán nội tệ và mua ngoại tệ gây áp lực lên tỷ giá và gia tăng lãi suất.