Đặt vấn đề. Nội dung của chương này sẽ trình bày về lý do lựa chọn đề tài, kết thúc chương sẽ trình bày về mục tiêu, nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài • Chương 2: Tổng quan về nghiên cứu. Nội dung chương 2 sẽ trình bày tổng quan về các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, đồng thời đưa ra các cơ sở lý thuyết về công nghệ và hệ thống thu thập dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu. • Chương 3: Giới thiệu về dữ liệu thực nghiệm.
Chương 3 sẽ trình bày tổng quan về dữ liệu nghiên cứu như giới thiệu về khu vực thu dữ liệu, cách thức thu thập dữ liệu và kết quả dữ liệu thu được. 3 • Chương 4: Phương pháp thực hiện. Nội dung chính của chương 4 sẽ trình bày về cách thức đồng bộ hóa dữ liệu để tạo ra được dữ liệu mây điểm, bên cạnh đó 2 phương pháp ước tính chiều cao cây lúa và cách thức xây dựng mô hình bề mặt cây trồng cũng được giới thiệu trong chương này. • Chương 5: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5 sẽ trình bày về các kết quả đạt được trong nghiên cứu cùng với các phân tích và bàn luận các kết quả này. • Chương 6: Kết luận và kiến nghị 4 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế (IRRI) công bố, cùng với lúa mì và ngô thì lúa gạo được xem là một trong những nguồn cung cấp lương thực chính cho dân số thế giới [1]. Gạo có thành phần giá trị dinh dưỡng cao khi so sánh với các loại ngũ cốc khác, ngoài ra gạo còn cung cấp thêm các vitamin và khoáng chất cần thiết khác cho cơ thể. Ở một số các quốc gia châu Á như Bangladesh, Việt Nam, Myanmar trung bình mỗi người dân tiêu thụ từ 100-200 kg gạo hằng năm, con số này chiếm đến hai phần ba lượng calories và đóng góp hơn 50% lượng protein cung cấp cho cơ thể hằng ngày.
Về mặt kinh tế, sản xuất lúa gạo được xem là một trong những nhân tố chủ đạo trong nền kinh tế nông nghiệp của nhiều quốc gia châu Á như Việt Nam, Thái Lan, Lào, … Bên cạnh việc đóng góp vào nền kinh tế, sản xuất lúa gạo còn giữ vai trò vô cùng quan trọng trong nhiệm vụ đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh dân số ngày càng tăng cao. Trong tương lai, sản lượng lúa gạo bắt buộc phải giữ được mức độ tăng trưởng bằng hoặc cao hơn tốc độ gia tăng dân số. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu cùng với việc mở rộng môi trường sống cũng như đặt sự quan tâm phát triển nhiều hơn cho các ngành kinh tế khác đã làm cho diện tích đất sản xuất lúa gạo ngày có xu hướng ngày càng giảm. Vì thế, để đảm bảo được tính ổn định trong hoạt động sản xuất lúa gạo thì việc áp dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất cần phải được quan tâm đầu tư nghiên cứu.
Theo các nghiên cứu [2–4] đã chỉ ra rằng các chỉ số về chiều cao cây, chỉ số sinh khối lúa, độ ẩm của đất, chỉ số về diện tích và màu sắc lá sẽ có mối liên hệ trực tiếp đến tình trạng phát triển của cây lúa. Giám sát được các chỉ số này sẽ tạo điều kiện cho người nông dân đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm tác động vào quá trình sinh trưởng để đảm bảo được năng suất và chất lượng của lúa vào cuối mùa vụ. Trong các chỉ số nêu trên thì chỉ số về chiều cao cây được xem là một trong những nhân tố quan trọng, phản ánh được tình trạng phát triển của cây trồng [5], vì trong điều kiện bình 5 thường ở một giai đoạn nhất định, chiều cao cây sẽ đạt đến một giá trị nhất định, trong trường hợp nếu cây mắc bệnh hoặc đồng ruộng bị thiếu nước sẽ dẫn đến nhịp độ sinh trưởng của cây bị giảm làm cho chiều cao của cây cũng bị giảm theo [10]. Tại Việt Nam, công tác giám sát chiều cao cây lúa cũng đã được hướng dẫn trong tiêu chuẩn ngành 10 TCN 394-99 “Quy phạm khảo nghiệm trên đồng ruộng hiệu lực của các thuốc điều hòa sinh trưởng đối với cây lúa”.
Trong quy phạm này thì chiều cao cây lúa được giám sát bằng cách lấy mẫu trực tiếp trên đồng ruộng theo nguyên tắc 5 cây/điểm, 5 điểm cố định/ô; chiều cao được tính từ mặt đất đến chóp lá cao nhất (trước khi trỗ) và đến chóp bông cao nhất (sau khi trỗ). Bên cạnh đó, trong các nghiên cứu khác về việc đánh giá sinh trưởng và năng suất của các giống lúa [14 - 15] thì chiều cao cây cũng là một trong những yếu tố quan trọng để giám sát. Tuy nhiên, trong các nghiên cứu này, công tác đo đạc chiều cao cây lúa đều được thực hiện theo phương pháp thủ công, lấy mẫu trực tiếp trên đồng ruộng. Nhược điểm của phương pháp này là chiều cao cây lúa chỉ mang tính chất cục bộ tại vị trí lấy mẫu và chưa thể đại diện được cho toàn bộ ruộng lúa.
Bên cạnh đó, việc lấy mẫu đòi hỏi người thực hiện phải đến trực tiếp ruộng lúa để lấy mẫu, điều này gây tốn nhiều thời gian và nhân lực để thực hiện. Để giải quyết được các khuyết điểm này thì việc áp dụng các giải pháp công nghệ vào công tác lấy mẫu là điều cần thiết. Ngày nay, công nghệ viễn thám đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp vì khả năng tiết kiệm cả về thời gian lẫn nhân lực [13]. Đặc biệt đối trong công tác giám sát sự phát triển của cây lúa, tác giả Thuy Le Toan và các cộng sự để đề xuất phương pháp áp dụng công nghệ viễn thám RADAR từ các vệ tinh ERS-1 [14] để theo dõi sự thay đổi về chiều cao và sinh khối của cây lúa.
Với phương pháp này, quá trình sinh trưởng của cây lúa có thể được giám sát gián tiếp thông qua dữ liệu vệ tinh mà không cần phải ra trực tiếp cánh đồng để lấy mẫu, ngoài ra phương pháp này còn có thể áp dụng được cho một khu vực rộng lớn. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn có nhược điểm là bị phụ thuộc vào thời gian thu tín hiệu của vệ tinh cũng như độ chính xác của phương pháp chỉ mang tính chất toàn cục cho khu vực rộng lớn và chưa thể sử dụng được cho các ứng dụng của kỹ thuật nông nghiệp chính xác. 6 Trong những thập kỹ gần đây, cùng với sự phát triển của viễn thám quang, viễn thám RADAR thì công nghệ viễn thám LiDAR cũng đang phát triễn rất mạnh mẽ và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực. Đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp, công nghệ quét laser đã được chứng minh khả năng có thể sử dụng cho các ứng dụng nông nghiệp chính xác nhằm thu thập một lượng lớn thông tin về mùa vụ trong khoảng thời gian tương đối ngắn [7–10].
Trong một nghiên cứu trước đây, Ehlert và các đồng nghiệp [15] đã đề xuất phương pháp giám sát chiều cao cây trồng trên một nền đất phẳng, máy quét laser sẽ được treo trên một bộ khung giá đỡ cách mặt đất một khoảng (hS), giá trị độ cao này sẽ được giữ cố định trong suốt quá trình thu dữ liệu. Độ cao của điểm phản xạ (hR) sẽ được tính bằng cách lấy giá trị độ cao của máy quét trừ đi tích giữa cự ly đo được với cosin của góc nghiêng tạo bởi tia quét và phương thẳng đứng của máy quét so với mặt đất (𝜑): ℎ! = ℎ" – 𝑙! cos(𝜑). Hình 2-1 Tính độ cao của điểm phản xạ từ phương pháp đề xuất của Ehlert [15] Ở một nghiên cứu khác, Kaizu và các cộng sự [16] đã đề xuất một phương pháp đơn giản để ước tính chiều cao của cây sử dụng máy quét laser mặt đất (TLS) được đặt trên chân ba bên ngoài cánh đồng ruộng, chiều cao của cây được tính bằng cách lấy giá trị độ cao của phần ngọn cây trừ đi độ cao của mặt đất, giá trị độ cao mặt đất được trích từ dữ liệu tại các vị trí có phần mặt đất không bị che phủ bởi cây. 7 Cũng thông qua việc thu thập dữ liệu bằng TLS, tác giả Hoffmeister và các cộng sự [17] đã đề xuất xây dựng mô hình bề mặt đại diện cho tầng trên của cây trồng (CSM).
Mô hình này được nội suy từ dữ liệu mây điểm. Trong phương pháp này, dữ liệu của bề mặt đất sẽ được ghi nhận trước khi mùa vụ bắt đầu, giá trị độ cao của cây sẽ được tính bằng độ lệch giữa CSM và độ cao tuyệt đối của mặt đất đã thu trước đó. Các phương pháp đề cập ở trên đã cho thấy khả năng có thể sử dụng TLS để ước tính độ cao cây trồng. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế tồn tại trong các phương pháp này.
Thứ nhất, các phương pháp được đề cập đa số đều đặt vị trí máy quét ở bên ngoài đồng ruộng, điều này có nghĩa chiều cao thiết lập ban đầu của máy quét sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xử lý sau cùng. Nếu máy quét được đặt quá thấp thì khả năng cao các tia quét sẽ không đến được phần diện tích bên trong của ruộng lúa, gây thiếu hụt dữ liệu. Thứ hai, có một yêu cầu bắt buộc để xác định được độ cao của cây trồng là cần phải xác định được cao độ của mặt đất hoặc một bề mặt gần với mặt đất, tuy nhiên các bề mặt này không phải lúc nào cũng có thể xác định được, nhất là đối với các bề mặt ẩm ướt hoặc bị che phủ bởi mật độ cây trồng dày đặc. Thứ ba, chi phí hoạt động cho các hệ thống giám sát bằng TLS thường rất cao, điều này sẽ góp phần làm tăng giá thành sản phẩm khi đến với người tiêu dùng.
Vì thế, nghiên cứu và phát triển một hệ thống có thể khắc phục các hạn chế trên, đồng thời đảm bảo được chi phí đầu tư và vận hành ở mức có thể chấp nhận được là một nhu cầu cần thiết. Để giải quyết các yêu cầu trên, trong một báo cáo trước đây [18], nhóm nghiên cứu đã đề xuất một phương pháp ước tính chiều cao cây lúa mà không cần xác định giá trị độ cao của bề mặt đất, thông qua dữ liệu mây điểm được thu thập bằng máy quét laser HOKUYO UTM30LX. Đây là loại máy quét có kích thước nhỏ và nhẹ (xấp xỉ 0.37 kg) với footprint hình chữ nhật. Thiết bị này có phép thu thập dữ liệu chính xác với tốc độ cao trong khoảng cự ly 30m.