Khóa luận thiết kế máy sấy cà phê 2 tấn/mẻ - ĐH Nông Lâm TP.HCM

Khóa luận thiết kế chế tạo máy sấy cà phê trái công suất 2 tấn/mẻ sử dụng vỏ trấu làm nhiên liệu. Nghiên cứu quy trình sấy, khảo nghiệm lò đốt sinh khối tiết kiệm chi phí năng lượng cho sản xuất cà phê.

Chuyên ngành

Cơ Khí Chế Biến Và Bảo Quản Sản Phẩm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2006

103
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách máy sấy cà phê trái 2000kg sử dụng vỏ trấu làm nhiên liệu hoạt động

Máy sấy cà phê trái 2000kg là thiết bị chuyên dụng trong xử lý sau thu hoạch cà phê, giúp giảm độ ẩm từ ~62% xuống còn ~14% trong khoảng 25–30 giờ. Thiết bị này sử dụng vỏ trấu làm nhiên liệu, một dạng nhiên liệu sinh khối dồi dào và rẻ tiền, đặc biệt phù hợp với các vùng trồng cà phê lớn như Tây Nguyên. Theo nghiên cứu của Lê Tỷ và Nguyễn Văn Tiến (2006), máy hoạt động theo nguyên lý sấy đối lưu có đảo chiều gió, giúp phân bố nhiệt đều và rút ngắn thời gian sấy. Không khí được đốt nóng nhờ lò sấy cà phê chạy bằng vỏ trấu cà phê, sau đó thổi xuyên qua lớp cà phê trái dày 0,5–0,6m. Quá trình sấy diễn ra ở nhiệt độ trung bình 60–65°C, với lưu lượng gió 0,55 m³/s/tấn. Nhờ cơ chế đảo chiều gió, sản phẩm khô đồng đều, hạn chế cháy xém hoặc nấm mốc. Đặc biệt, việc tận dụng vỏ trấu đốt lò không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn góp phần xử lý phế thải nông nghiệp, nâng cao tính bền vững trong chuỗi giá trị cà phê.

1.1. Cấu tạo và nguyên lý vận hành của máy sấy công suất lớn

Thiết bị sấy cà phê trái bao gồm buồng sấy hình hộp, hệ thống quạt hướng trục, lò đốt ngược và bộ đảo chiều gió. Cà phê tươi được trải đều trên sàn lưới với độ dày 0,5–0,6m. Không khí nóng từ lò sấy cà phê được quạt hút vào buồng sấy, đi từ dưới lên trong giai đoạn đầu, sau đó đảo chiều từ trên xuống để cân bằng độ ẩm. Cơ chế này giúp tránh hiện tượng lớp dưới khô quá nhanh trong khi lớp trên vẫn ướt – một vấn đề phổ biến ở máy sấy nông sản truyền thống.

1.2. Vai trò của vỏ trấu trong hệ thống sấy hiện đại

Vỏ trấu làm nhiên liệu mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Mỗi tấn cà phê nhân tạo ra khoảng 160kg vỏ trấu – đủ để cung cấp năng lượng cho chính quá trình sấy. Nghiên cứu cho thấy vỏ trấu đốt lò có nhiệt trị ~13 MJ/kg, cháy sạch, ít khói khi dùng trong lò đốt ngược. Điều này giúp máy sấy tiết kiệm nhiên liệu và giảm phát thải, đồng thời tận dụng nguồn phế liệu sẵn có tại chỗ.

II. Thách thức khi sấy cà phê trái bằng phương pháp truyền thống

Phơi nắng – phương pháp xử lý sau thu hoạch cà phê phổ biến – tiềm ẩn nhiều rủi ro: phụ thuộc thời tiết, tốn diện tích, dễ nhiễm bẩn và mất đồng đều về chất lượng. Khi mưa bất ngờ, cà phê ẩm trở lại, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển, làm giảm giá trị thương phẩm. Ngược lại, máy sấy cà phê công suất lớn giải quyết triệt để các nhược điểm này. Tuy nhiên, trước khi ứng dụng máy sấy 2000kg, người sản xuất đối mặt với chi phí đầu tư cao và tiêu hao nhiên liệu. Nhiều thiết bị sấy cà phê trái cũ sử dụng than đá hoặc dầu FO – vừa đắt, vừa gây ô nhiễm. Ngoài ra, thiết kế không tối ưu dẫn đến tổn thất nhiệt lớn, hiệu suất sấy thấp. Nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM (2006) chỉ ra rằng hiệu suất sấy cà phê có thể tăng 20–30% nếu sử dụng nhiên liệu sinh khối như vỏ trấu kết hợp với công nghệ đảo chiều gió. Đây là bước chuyển mình quan trọng từ sấy thủ công sang công nghệ sấy cà phê hiện đại.

2.1. Hạn chế của phơi nắng và sấy bằng nhiên liệu hóa thạch

Phơi nắng kéo dài 3–5 ngày, đòi hỏi sân bãi rộng và lao động thủ công. Trong khi đó, lò sấy cà phê dùng than đá tuy ổn định hơn nhưng tốn kém và phát thải CO₂ cao. Chi phí nhiên liệu chiếm tới 40–60% tổng chi phí sấy, gây áp lực lớn cho hộ nông dân quy mô vừa và nhỏ.

2.2. Vấn đề đồng đều độ ẩm và chất lượng hạt sau sấy

máy sấy nông sản không có đảo chiều, lớp cà phê tiếp xúc trực tiếp với luồng khí nóng thường khô nhanh, trong khi lớp trên vẫn ẩm. Sự chênh lệch này làm giảm hiệu suất sấy cà phê và ảnh hưởng đến hương vị thành phẩm. Giải pháp đảo chiều gió đã được chứng minh là hiệu quả trong việc khắc phục hiện tượng này.

III. Phương pháp thiết kế máy sấy cà phê trái 2000kg tiết kiệm năng lượng

Dựa trên khảo nghiệm thực tế, nhóm nghiên cứu Lê Tỷ – Nguyễn Văn Tiến (2006) đã tính toán và thiết kế máy sấy cà phê trái 2000kg/mẻ với các thông số tối ưu: nhiệt độ sấy 65°C, bề dày lớp trái 0,6m, lưu lượng gió 0,55 m³/s/tấn. Hệ thống sấy cà phê liên tục này sử dụng lò đốt ngược – công nghệ cho phép vỏ trấu đốt lò cháy hoàn toàn, gần như không khói. Lò được thiết kế với hai luồng không khí: sơ cấp đi từ trên xuống xuyên qua lớp nhiên liệu, và thứ cấp hỗ trợ đốt cháy khí bốc, đảm bảo cháy sạch. Máy sấy tiết kiệm nhiên liệu nhờ tận dụng 100% nhiệt từ quá trình đốt nhiên liệu sinh khối. Ngoài vỏ trấu, hệ thống còn tương thích với hột nhãn, củi vụn – những phế liệu sẵn có tại địa phương. Tính toán cho thấy mỗi mẻ sấy 2000kg cần khoảng 1116kg nước bốc hơi, tiêu thụ ~13,8 kg vỏ trấu/giờ. Với hiệu suất lò 80%, chi phí nhiên liệu giảm 30–50% so với than đá.

3.1. Tối ưu thông số kỹ thuật cho hiệu suất sấy cà phê cao

Các thông số như nhiệt độ, lưu lượng gió và độ dày lớp trái được xác định qua thí nghiệm. Tại 65°C, thời gian sấy rút ngắn còn 25–30 giờ, trong khi vẫn giữ được chất lượng hạt. Lưu lượng gió 0,55 m³/s/tấn đảm bảo thoát ẩm hiệu quả mà không làm bay hạt.

3.2. Ứng dụng lò đốt ngược để đốt vỏ trấu hiệu quả

Lò đốt ngược giúp vỏ trấu cà phê cháy ổn định, ít tro, không khói. Khí cháy được dẫn trực tiếp vào buồng sấy, tận dụng toàn bộ nhiệt lượng. Đây là yếu tố then chốt giúp máy sấy 2000kg đạt hiệu quả kinh tế vượt trội so với các mẫu máy cũ.

IV. Kết quả khảo nghiệm máy sấy cà phê trái sử dụng nhiên liệu sinh khối

Khảo nghiệm thực tế tại Phòng thí nghiệm Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM (2006) cho thấy máy sấy cà phê trái 2000kg hoạt động ổn định với vỏ trấu làm nhiên liệu. Hai mẻ sấy thử nghiệm đạt độ ẩm đầu ra 12% trong 30–34 giờ. Lò đốt vỏ trấu tiêu thụ trung bình 4,36 kg/giờ, không phát sinh khói, ngọn lửa xanh-vàng ổn định. Nhiệt trị của vỏ trấu cà phê được xác định ở mức 13–14 MJ/kg – tương đương 50–60% than đá nhưng rẻ hơn nhiều. Đặc biệt, hệ thống sấy cà phê liên tục cho phép sấy đồng đều nhờ đảo chiều gió sau mỗi 10–12 giờ. Kết quả cũng khẳng định khả năng thay thế linh hoạt nhiên liệu: hột nhãn cho nhiệt trị cao hơn (~15–18 MJ/kg), phù hợp khi thiếu vỏ trấu. Tổng chi phí đầu tư và vận hành giảm đáng kể, trong khi hiệu suất sấy cà phê duy trì ở mức 90–95%. Đây là minh chứng thuyết phục cho tính khả thi của mô hình máy sấy tiết kiệm nhiên liệu trong thực tiễn sản xuất.

4.1. Hiệu quả sấy và tiêu hao nhiên liệu trong điều kiện thực tế

Mẻ sấy 1 (13,5kg cà phê mít) mất 34 giờ; mẻ 2 (12,5kg) chỉ mất 30 giờ nhờ tăng nhiệt độ và độ ẩm đầu vào thấp hơn. Lượng vỏ trấu đốt lò dao động 3,9–4,36 kg/giờ, cho thấy tính ổn định cao của hệ thống.

4.2. So sánh hiệu suất giữa vỏ trấu và hột nhãn làm chất đốt

Hột nhãn cháy sạch, ít tro, nhiệt trị cao (~18 MJ/kg), phù hợp làm nhiên liệu bổ sung. Tuy nhiên, vỏ trấu cà phê vẫn là lựa chọn tối ưu do sẵn có ngay tại cơ sở chế biến, giảm chi phí logistics và xử lý phế thải.

V. Ứng dụng thực tiễn và lợi ích kinh tế của máy sấy 2000kg

Máy sấy cà phê trái 2000kg không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn mang lại giá trị kinh tế và môi trường rõ rệt. Với năng suất 2 tấn/mẻ, thiết bị phù hợp cho hợp tác xã hoặc cơ sở chế biến vừa. Việc sử dụng vỏ trấu làm nhiên liệu giúp tiết kiệm 30–50% chi phí so với than đá, đồng thời giải quyết bài toán xử lý phế thải – mỗi năm, ngành cà phê Việt Nam thải ra hàng trăm ngàn tấn vỏ trấu. Công nghệ sấy cà phê hiện đại này còn đảm bảo chất lượng hạt đồng đều, giảm hao hụt sau thu hoạch từ 5–7% xuống còn dưới 2%. Tại Đắk Lắk và Lâm Đồng, nhiều cơ sở đã áp dụng thành công mô hình này, rút ngắn thời gian sấy từ 3–4 ngày (phơi) xuống còn 1 ngày. Ngoài ra, hệ thống sấy cà phê liên tục có thể mở rộng để sấy các nông sản khác như tiêu, điều, nhãn – tăng hiệu quả sử dụng tài sản. Đây là bước tiến quan trọng trong hướng tới nền nông nghiệp tuần hoàn và carbon thấp.

5.1. Tiết kiệm chi phí và xử lý phế thải tại chỗ

Mỗi tấn cà phê nhân tạo ra 160kg vỏ trấu – đủ để sấy 1,2–1,5 tấn cà phê tươi. Việc tái sử dụng phế liệu này giúp nông dân giảm chi phí nhiên liệu và không cần bãi chứa phế thải, góp phần bảo vệ môi trường.

5.2. Mở rộng ứng dụng cho các loại nông sản khác

Thiết kế linh hoạt của máy sấy nông sản cho phép điều chỉnh thông số để sấy tiêu, điều, hay trái cây sấy. Điều này giúp tăng vòng đời sử dụng thiết bị, nâng cao hiệu quả đầu tư ban đầu.

VI. Tương lai của công nghệ sấy cà phê sử dụng nhiên liệu sinh khối

Xu hướng phát triển máy sấy cà phê trong thập kỷ tới tập trung vào tự động hóa, tiết kiệm năng lượng và tích hợp năng lượng tái tạo. Máy sấy cà phê trái 2000kg sử dụng vỏ trấu là nền tảng lý tưởng để nâng cấp thành hệ thống thông minh – điều khiển nhiệt độ, độ ẩm và thời gian sấy qua cảm biến IoT. Nghiên cứu cũng đang hướng đến việc kết hợp nhiên liệu sinh khối với năng lượng mặt trời hoặc sinh khối ép viên để tăng mật độ năng lượng. Tại Việt Nam, nơi có nguồn vỏ trấu đốt lò dồi dào, mô hình này có tiềm năng nhân rộng mạnh mẽ, đặc biệt trong bối cảnh giá nhiên liệu hóa thạch biến động. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước cho thiết bị xử lý sau thu hoạch sẽ thúc đẩy adoption. Về lâu dài, công nghệ sấy cà phê hiện đại không chỉ nâng cao chất lượng hạt mà còn đóng vai trò then chốt trong chiến lược nông nghiệp xanh – giảm phát thải, tuần hoàn tài nguyên và nâng cao thu nhập bền vững cho nông dân.

6.1. Hướng phát triển máy sấy thông minh và tự động

Tích hợp cảm biến độ ẩm, nhiệt độ và hệ thống điều khiển PID sẽ giúp máy sấy 2000kg tự động điều chỉnh thông số, tối ưu hóa hiệu suất sấy cà phê mà không cần can thiệp thủ công.

6.2. Vai trò của chính sách và hỗ trợ kỹ thuật trong nhân rộng mô hình

Các chương trình hỗ trợ vốn, đào tạo kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa thiết bị từ Bộ NN&PTNT sẽ là chìa khóa để đưa máy sấy tiết kiệm nhiên liệu đến tay nông dân, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Cà phê là một loại cây công nghiệp được trồng nhiều trên thế giới. Ở nước ta cây cà phê chiếm một diện tích khá lớn và nó gần như một đặc sản. Vì cà phê có những đặc tính đặc biệt có lợi cho con người khi sử dụng, mà cà phê đã đi vào cuộc sống của con người nhanh chóng. Với hương vị độc đáo, các thành phần dinh dưỡng va tính kích thích nhẹ của một lượng cafein vừa phải có trong nó.

Nên ngày nay sản phẩm của nó được sử dụng hau như trên khắp thế giới. Với lượng cà phê ngày càng tăng về diện tích và chất lượng, mà van đề bảo quản cà phê để đảm bảo chất lượng ngày càng là mối quan tâm hàng đầu của người trồng cà phê. Muốn bảo quản cà phê được lâu và không làm giảm chất lượng ca phê. Ta cần phải làm khô cà phê đến độ 4m bảo quản dé cà phê không bị hư hỏng.

Từ xưa đến nay con người vẫn chọn phương pháp làm khô bằng cách phơi dưới ánh nắng mặt trời. Tuy phương pháp này có những ưu điểm nhất định, nhưng nó vẫn có những nhược điểm khó khắc phục như: Phụ thuộc hoàn toàn vào thời tiết, tốn nhiều thời gian và công sức, sự ton thất do mưa gió, đồng thời khó đảm bảo được chất lượng và mức độ đồng đều khi phơi. Do khắc phục những hạn chế khi phơi nắng, mà say đã và đang phố biến rộng rãi. Ngày nay, máy say được sử dụng nhiều trong say nông sản ké cả cà phê.

Và trong sấy cà phê nó có thé đảm bao chất lượng dat được cao hơn so với phương pháp phơi thông thường: - Không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. - Có thé xác định được thời gian và thời điểm say. - Giảm được thời gian và sức lao động. - Chất lượng cà phê thay đổi ít.

-5- Trong nước ta hiện nay có nhiều loại máy sấy với các qui trình và phương thức khác nhau. Những loại này ít nhiều còn hạn chế về năng suất, chất lượng cũng như về tính kinh tế của nó. Đặc biệt là vấn đề về sự thất thoát nhiệt lượng và nguyên liệu đốt của máy sấy. Điều này ảnh hưởng lớn đến tính kinh tế của máy sấy và vấn đề nay là môi quan tâm hang dau của những người sử dung may say.

Với đề tài “Tính tóan thiết kế máy sấy cà phê trái 2000kg/mẻ có đảo chiều và sử dụng vỏ trau cà phê làm chất đốt”. Chúng tôi đi sâu nghiên cứu, khảo nghiệm việc sấy cà phê và van dé sử dụng nguyên liệu đốt dé sấy. Từ đó rút ra những kết quả và quy luật chung phục vụ cho việc say cà phê của đất nước ta hiện nay. Nhằm góp phan trong việc bảo quan dé giữ chất lượng cà phê tốt hon và giảm chi phí trong vấn đề sử dụng nguyên liệu đốt.

MỤC ĐÍCH ĐÈ TÀI 3.Mục đích chung : Tính toán thiết kế máy sấy cà phê trái năng suất 2000kg/mẻ, có đảo chiều gió, sử dung vỏ trau cà phê như là chất đt.2 Mục đích cụ thể: * Ở mức thí nghiệm : + Xác định quá trình giảm âm của cà phê trái. + Xác định quá trình diễn biến nhiệt độ trong khi sấy. + Ché tạo - khảo nghiệm lò đốt võ trau cà phê: 4 kg/giờ. + Khảo nghiệm lò đốt hột nhãn: 4 kg/giờ.

+ Khảo nghiệm lò đốt hột nhãn: 12 kg/giờ. * Trên cơ sở các kết quả thí nghiệm và tổng hợp tài liệu tính toán thiết kế, máy say cà phê trái dang đảo chiều gió năng suất 2000kg trai/mé, sử dụng vỏ trâu cà phê như là chất đốt.TRA CỨU TÀI LIỆU 4.1 Tình hình sản xuat và tiêu thụ cà phê trên thế gidi. Trên thế giới hiện nay có khoảng 79 nước trồng cà phê, với tổng diện tích trên 10 triệu ha, tổng sản lượng năm 1996 là 5. Sản lượng cà phê nhân của một số nước sản xuất chính trình bay ở bảng 1-1.

Sản lượng cà phê nhân của một số nước sản xuất chính trên thế giới, năm 1995/1996. Khu vực, nước Sản lượng (tấn) Bắc Mỹ và Trung Mỹ 153.000 Chau Phi Ivory Coast 180.000 -8- Các nước trồng cà phê lớn trên thé giới tập trung gần xích đạo vì cây cà phê rat dễ bị nguy hại do sương muối. Ở vùng nhiệt đới, cà phê có thể trồng tới độ cao 2.500 m, nhưng không trồng được trên độ cao 250 m ở ngoài 25° vĩ Nam và 25° vĩ Bắc.2 Sự phát triển của nghành cà phê Việt Nam. Cà phê được người pháp đưa vào trồng thử năm 1857 ở Bố Trạch (Quảng Bình) và tỉnh Quảng Trị.

Đến năm 1888, cà phê được phát triển thành các đồn điền ở Nghệ An, Quảng Tri và Đắc Lắc với diện tích đồn điền khoảng vài trăm ha. Hai Trạm Nghiên cứu Cà phê được thành lập tại Phủ Quỳ (Nghệ An) và Bảo Lộc (Lâm Đồng). Ở miền Nam, năm 1964 diện tích cà phê đạt 11.120 ha, tập trung ở vùng cao nguyên Đắc Lắc. Trong những năm 1980, diện tích trồng cà phê tăng lên và cà phê Việt Nam trở thành loại hàng hóa đặt biệt mang lại ngoại tệ cao.

Diện tích năm 1989 — 1990 đạt 123.000 ha và sản lượng đạt 90.000 ha và sản lượng 400.000 tan, xuất khâu đứng hàng thứ 4 trên thế giới (xem bảng 1-2). Sản lượng cà phê nhân của Việt Nam từ 1992 đến 1997 (tấn cà phê nhân).000 Việt Nam gia nhập Tổ chức Cà phê Quốc tế (International Cooffe Organization, ICO) năm 1991. Khuyên hướng phát triển cà phê hiện nay là thâm canh tăng năng suất cà phê Robusta, mở rộng diện tích cà phê Arabica trên vùng cao miền Bắc như Sơn La, Tuyên Quang, Lai Châu, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hòa Bình, Nghệ An với những dòng chọn lọc như Catimor, hiện đã trồng khoảng 6. Catimor cũng được đưa vào cao nguyên Lâm Đồng và Dac Lắc dé thay cho một số giống dễ nhiễm bệnh ri sắt.

Robusta là dong sản xuất chính vì có đặt điểm dễ thích nghi, năng suất cao, trung bình 4 đến 5 tấn nhân/ha. Các kỹ thuật -9- chế biến và lựa hạt hiện đại bằng thiết bị điện tử đã nâng cao chất lượng mặt hàng cà phê Việt Nam trên thị trường thế giới.3 Đặc điểm các loại cà phê thường trồng trong sản xuất. - Các loại cà phê đều thuộc giống coffea. Trong tự nhiên có khoảng 70 lọai cà phê khác nhau.

- Trên thế giới các giống cà phê được trồng rộng rãi: Gồm 3 lọai chính + Ca phê chè (Coffea Arabica). + Cà phê vôi (Coffea Robusta). Các giống này đều có thời gian thu hoạch khác nhau nên có thé bổ sung thời vụ cho việc trồng và thu hoạch các giống chính.1 Cà phê chè (Coffea Arabica). Đây là loại cà phê trồng nhiều nhất trên thế giới.

Nguồn gốc của giống này là ở cao nguyên Etiopia vùng nhiệt đới Đông Châu Phi. Trái thường hình trứng có khi tròn, khi trái chín có màu đỏ tươi. Một số giống khi chín có màu vàng, đường kính trái từ 10 — 15 mm. Số lượng trái từ 800 — 1200 trái/Ikg.

Trong một trái thường có hai nhân. Nhân có vỏ lụa màu bạc bám cứng vào nhân. Ngoài vỏ lụa là vỏ trâu cứng, ngoài cùng là vỏ thịt. Từ 5 — 7 kg trái sẽ thu được Ikg nhân cà phê sống.

Màu hạt xám xanh, xanh, xanh lục, xanh nhạt, tùy theo cách chế biến. Lượng cafein có trong nhân khoảng từ 1 — 3 % tùy theo giống.2 Cà phê voi (Coffea Robusta). Nguồn gốc ở khu vực sông Công Gô và miền núi vùng thấp xích dao và nhiệt đới Tây Châu Phi, thích hợp địa hình thấp, nóng ẩm, mưa nhiều. Trái hình trứng hoặc tròn, trái chín có màu đỏ thẫm, vỏ trái cứng và dai hơn cả phê Arabica.

Từ 5 — 6 kg trái sẽ thu được 1 kg nhân. Nhân hình hơi tròn, to ngang vỏ lụa màu ánh nâu bạc, vàng mỡ ga. Tùy theo chủng loại và phương pháp chế biến, lượng cafein có khoảng từ 1,5 — 3 %. Thịt trái thường bám chắc vào nhân gây khó khăn trong van dé sơ chế.3 Cà phê mit (Coffea Chari).

- Nguồn gốc ở xứ Ubangui Chari ( Châu Phi) =] Os - Lá ca phê mit to, day, tron lang dai 15 — 35 cm, rộng 6 — 15 em. - Trái hình trứng, nướm hơi lỗi và to. Trái chin cùng một lúc với đợt hoa mới. Khi chín trái có màu đỏ sam, hạt có màu xanh vàng.

- Hàm lượng cafein trong cà phê mít thấp 0,8 — 1,2 %. - Nói về hương vị trong tất cả ba loại cà phê nói trên thì cà phê chè thơm dịu hơn, còn cà phê mít có vị chua, không thơm hoặc thơm rất it.4 Quy trình chung cho các loại cà phê.1 Quy trình sau thu hoạch cà phê của người dân. - Về thu hoạch trái tươi: Được hái bằng tay, khi hái không dé gay cành, rụng lá. Trong quá trình hái và vận chuyên, giữ trái không đề dính đất, cát, do đó khi chế biến không tốn công làm sạch.

Quy trình thu hoạch cà phê của người nông dân Trai tươi — bóc vỏ trái tươi — phơi — bóc vỏ khô va vỏ lụa —> làm sạch > vào bao dự trữ. - Đóc vỏ trái tươi: Trai tươi ngay sau khi thu hoạch được đưa vào máy xát, trục ngang quay cắt vỏ trái tươi đưa ra ngoài nhờ cánh xoắn. - Làm khô hạt cà phê: Phương pháp làm khô hạt cà phê bằng cách phơi ngoài năng, phơi hạt trên các sân phơi ở cạnh nhà. Sàn phơi làm bằng xi măng hoặc gạch, đá, bề dày lớp hạt phơi từ 2-3cm, nếu trời nắng thời gian phơi từ 2-3 ngày.

Trong ngày dau vì cà phê còn ướt, bề day hạt được phơi phải mỏng 2-3cm, những ngày sau khi lớp hạt hơi khô, bề dày hạt được phơi có thể dày hơn, khi phơi cần phải đảo trở, nếu ngày nắng gắt, số lần đảo trở phải nhiều, nều ngày mưa, cần có hệ thống che đậy, dé nhận biết hạt đủ khô thường người dân dựa vào kinh nghiệm từ sự thay đôi màu sắc hoặc can vỏ hạt. Sau đó cho vào bao chuẩn bị cho khâu chế biến.2 Chế biến cà phê nhân. Cà phê nhân được chế biến theo 2 phương pháp khác nhau: - Phương pháp ướt: Dùng những thiết bị và quá trình thích hợp dé bóc lớp vỏ trái và vỏ thịt, nhân cà phê chi còn lớp vỏ trau và vỏ lụa gọi là cà phê thóc ướt. Say khô cà phê thóc ướt đến độ âm thích hợp sẽ thu được bán thành phẩm là cà phê thóc khô.

[Ie - Phuong pháp khô: Lớp vỏ trái và vo thịt không bóc mà làm khô ngay trái cà phê tươi vừa thu hoạch. Bán thành phẩm thu được là cà phê trái khô.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ