Khóa luận thiết kế chế tạo máy chăm sóc mía - ĐH Nông Lâm TP.HCM

Khóa luận thiết kế chế tạo máy chăm sóc mía giữa hàng 1.4m liên hợp máy kéo 20HP. Nghiên cứu tính toán kỹ thuật, khảo nghiệm năng suất 0.5 ha/h.

Chuyên ngành

Cơ khí nông lâm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đề tài tốt nghiệp

2002-2006

80
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách thiết kế máy chăm sóc mía giữa hàng 1

Thiết kế máy chăm sóc mía giữa hàng 1.4m liên hợp máy kéo đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu nông học và kỹ thuật cơ khí. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM (2006), cây mía trồng với khoảng cách hàng tiêu chuẩn 1.4 mét cần được chăm sóc lần ba vào tuần thứ 12–14 sau khi trồng. Giai đoạn này yêu cầu xới đất, làm cỏ giữa hàng và đảm bảo mặt đồng bằng phẳng để hỗ trợ phát triển bộ rễ và thuận lợi cho các khâu cơ giới hóa tiếp theo. Mẫu máy được phát triển dựa trên nền tảng lý thuyết về lực cản đất, đặc tính cơ-lý của đất vùng Đông Nam Bộ và kinh nghiệm từ các thiết bị hiện có như máy XB 1.4x2. Cấu trúc máy bao gồm bộ phận xới dạng chảo và mũi đục, cụm san phẳng dạng bừa răng, cùng hệ thống treo 3 điểm phù hợp với máy kéo Kubota L-2000. Độ sâu xới đạt 100–120 mm cho chảo và 150–200 mm cho mũi đục, bề rộng làm việc 800 mm, năng suất 0.5 ha/h. Thiết kế này không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mà còn tối ưu chi phí sản xuất và dễ dàng tháo lắp, sửa chữa trong điều kiện thực địa.

1.1. Yêu cầu nông học khi chăm sóc mía giữa hàng 1.4m

Giai đoạn chăm sóc lần ba (12–14 tuần tuổi) yêu cầu máy chăm sóc mía phải xới thông thoáng, diệt cỏ dại và không gây tổn thương gốc mía. Khoảng cách an toàn tối thiểu là 15–20 cm tính từ gốc. Mặt đồng sau khi xử lý phải bằng phẳng để thuận lợi cho tưới tiêu và thu hoạch cơ giới.

1.2. Cơ sở lý thuyết trong thiết kế máy liên hợp

Thiết kế dựa trên lý thuyết lực cản kéo của cày chảo và mũi xới không lật. Các thông số hình học như đường kính chảo (500 mm), góc tiến (35°), góc nghiêng (15°) được tính toán để giảm lực cản và tăng hiệu quả xới đất. Vật liệu thép C45 được chọn cho trục và trụ nhờ độ bền cao và khả năng chịu va đập.

II. Thách thức khi áp dụng máy làm cỏ mía giữa hàng 1

Việc áp dụng máy làm cỏ mía giữa hàng 1.4m tại Tây Ninh gặp nhiều thách thức do đặc thù canh tác và điều kiện tự nhiên. Hiện nay, phần lớn diện tích mía lưu gốc chiếm gấp 3–4 lần mía tơ, khiến yêu cầu kỹ thuật chăm sóc phức tạp hơn. Nhiều hộ vẫn dùng phương pháp thủ công hoặc trâu bò cày lật, dẫn đến tốn công, mất thời gian và hiệu quả thấp. Một số mô hình máy chăm sóc thử nghiệm trước đây như XM-6 hay XB 1.4x2虽 hoạt động tốt nhưng chưa phổ biến do lực cản lớn, khung máy chưa đủ bền hoặc khó vận hành. Ngoài ra, tình trạng mặt ruộng không bằng phẳng, mưa nhiều gây lún, hoặc hàng mía không thẳng hàng làm tăng tỷ lệ gãy cây khi sử dụng máy liên hợp. Theo khảo nghiệm thực tế tại nông trường Thành Long (2006), tỷ lệ chết cây dao động 1–2%, vẫn trong ngưỡng cho phép (<5%), nhưng hiệu suất làm việc giảm đáng kể khi đất quá ẩm hoặc cỏ dại phát triển mạnh. Những hạn chế này cho thấy cần cải tiến thêm về cấu trúc máy và đồng bộ hóa quy trình canh tác từ khâu trồng.

2.1. Tình hình cơ giới hóa khâu chăm sóc mía ở Tây Ninh

Hiện nay, cơ giới hóa khâu chăm sóc mía ở Tây Ninh chủ yếu tập trung vào một số trang trại lớn. Đa số nông hộ nhỏ lẻ vẫn phụ thuộc lao động thủ công. Máy kéo nhỏ như Bông Sen-12 từng được thử nghiệm nhưng gây mệt mỏi cho người vận hành và dễ đâm vào hàng mía.

2.2. Hạn chế của thiết bị nông nghiệp cho mía hiện có

Các thiết bị nông nghiệp cho mía như máy xới lò xo hay máy liên hoàn IRRI tuy có ưu điểm nhưng gặp vấn đề về độ bền, lực cản kéo cao hoặc không phù hợp với điều kiện đất ẩm. Đặc biệt, cụm xới ngầm dễ bị cỏ bám khi làm việc trên ruộng cỏ dại dày.

III. Phương pháp chế tạo máy xới đất giữa hàng mía 1

Chế tạo máy xới đất giữa hàng mía 1.4m đòi hỏi quy trình kỹ thuật chính xác và lựa chọn vật liệu phù hợp để đảm bảo độ bền và hiệu quả kinh tế. Nhóm nghiên cứu Trường Đại học Nông Lâm TP.HCM đã sử dụng thép CT34 cho khung máy và thép C45 cho các bộ phận chịu lực như trục chảo, trụ xới. Quy trình chế tạo bao gồm cắt, hàn, tiện và lắp ráp tại xưởng cơ khí bộ môn Công thôn. Các cụm chi tiết như chảo xới, mũi đục, bừa răng được gia công riêng lẻ rồi lắp thành cụm hoàn chỉnh. Đặc biệt, cụm san phẳng được thiết kế với lò xo điều chỉnh độ đàn hồi, giúp máy bám sát mặt đồng dù địa hình không bằng phẳng. Hệ thống giới hạn độ sâu sử dụng bánh thép đường kính 250 mm, cho phép điều chỉnh linh hoạt theo yêu cầu nông học. Toàn bộ quá trình chế tạo kéo dài từ 27/3 đến 27/5/2006, sử dụng máy hàn 300A, máy khoan trục đứng và dụng cụ cắt gió đá. Kết quả cho thấy máy đạt yêu cầu kỹ thuật, không xảy ra hư hỏng trong quá trình khảo nghiệm không tải và có tải.

3.1. Vật liệu và công nghệ chế tạo khung máy

Khung máy được chế tạo từ thép tấm dày 5 mm, dập thành hình chữ U 100x100 mm. Các mối hàn được thực hiện bằng que hàn Ø4 mm, cường độ 300A, đảm bảo độ cứng vững khi làm việc trên ruộng mía lưu gốc.

3.2. Cụm xới và san phẳng trái tim của máy chăm sóc mía

Cụm xới gồm hai chảo đường kính 500 mm và một mũi đục sâu 15–20 cm. Cụm san phẳng dùng bừa răng uốn cong 40–50°, kết hợp lò xo giúp máy tự điều chỉnh theo địa hình, vừa vùi cỏ vừa san mặt đồng hiệu quả.

IV. Bí quyết vận hành máy chăm sóc mía liên hợp máy kéo 20 HP hiệu quả

Vận hành máy chăm sóc mía liên hợp máy kéo 20 HP đòi hỏi tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật để đạt hiệu suất tối đa và giảm hao mòn thiết bị. Máy kéo Kubota L-2000 được chọn vì có thể điều chỉnh khoảng cách bánh sau (900–1290 mm), phù hợp với hàng mía 1.4 m. Tốc độ làm việc lý tưởng là 3 km/h, tương ứng năng suất 0.5 ha/h. Trước khi vận hành, cần kiểm tra độ siết bulong, mức dầu nhớt và khoảng cách an toàn giữa các chảo xới và gốc mía. Trong quá trình làm việc, nên duy trì hệ thống thủy lực ở chế độ “bơi” để máy tự điều chỉnh độ sâu theo độ cứng của đất. Khảo nghiệm tại nông trường Thành Long cho thấy chi phí nhiên liệu chỉ 8–9 lít/ha, thấp hơn nhiều so với phương pháp thủ công (300.000 đồng/ha). Ngoài ra, máy giảm tới 200.000 đồng/ha chi phí nhân công, đồng thời rút ngắn thời gian chăm sóc từ 1 ngày xuống còn 1–2 giờ. Tuy nhiên, cần tránh vận hành khi đất quá ẩm hoặc cỏ dại mọc dày để không làm quá tải cụm xới ngầm.

4.1. Lựa chọn và điều chỉnh máy kéo phù hợp

Máy kéo 20 HP như Kubota L-2000 phải được điều chỉnh khoảng cách bánh xe phù hợp với hàng mía 1.4 m. Hệ thống treo 3 điểm giúp máy bám đất tốt và phân bố lực đều, giảm rung lắc khi di chuyển.

4.2. Quy trình vận hành và bảo dưỡng định kỳ

Sau mỗi ca làm việc, cần vệ sinh cụm xới, tra dầu mỡ vào ổ bi và kiểm tra độ mòn của chảo. Bảo dưỡng định kỳ 50 giờ giúp kéo dài tuổi thọ máy và duy trì hiệu suất ổn định.

V. Ứng dụng thực tiễn máy cắt cỏ giữa hàng mía 1

Ứng dụng thực tiễn máy cắt cỏ giữa hàng mía 1.4m tại nông trường Thành Long (Tây Ninh) cho thấy hiệu quả rõ rệt cả về kỹ thuật lẫn kinh tế. Trong đợt khảo nghiệm tháng 6/2006 trên diện tích 8.5 ha, máy đạt độ sâu xới trung bình: chảo trái 8.28 cm, chảo phải 10.16 cm, mũi đục 12.44 cm và bề rộng làm việc 810.6 mm. Tỷ lệ chết cây dưới 2%, nằm trong giới hạn cho phép. Máy thực hiện đồng thời ba chức năng: xới đất, diệt cỏ và san phẳng mặt đồng, giúp cải thiện thông khí cho bộ rễ và chuẩn bị nền cho bón phân hoặc tưới tiêu. Về kinh tế, chi phí chăm sóc giảm từ 300.000 đồng/ha (thủ công) xuống còn ~100.000 đồng/ha (cơ giới), đồng thời giải phóng lao động nặng nhọc. Tuy nhiên, hiệu quả giảm khi gặp ruộng nhiều cỏ hoặc đất quá ẩm. Đề xuất cải tiến bao gồm bổ sung máy bón phân mía tích hợp để xử lý tình huống không thể bón phân ở lần chăm sóc thứ hai do thời tiết.

5.1. Kết quả khảo nghiệm thực địa tại nông trường mía

Khảo nghiệm cho thấy máy xới đất giữa hàng mía đáp ứng tốt yêu cầu nông học: xới sâu, vùi cỏ, không làm gãy cây. Tuy nhiên, độ sâu xới biến động do địa hình không bằng phẳng và chế độ thủy lực 'bơi' chưa đủ ổn định.

5.2. Hiệu quả kinh tế và xã hội của thiết bị hiện đại

Mỗi ha tiết kiệm 200.000 đồng và 6–7 giờ lao động. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh thiếu hụt lao động nông thôn và yêu cầu cơ giới hóa đồng bộ ngành mía đường Việt Nam.

VI. Tương lai của thiết bị canh tác mía hiện đại Hướng đến cơ giới hóa toàn diện

Tương lai của thiết bị canh tác mía hiện đại hướng đến cơ giới hóa toàn diện từ khâu làm đất, trồng, chăm sóc đến thu hoạch. Mẫu máy chăm sóc mía giữa hàng 1.4m liên hợp máy kéo là bước tiến quan trọng, nhưng cần được tích hợp thêm chức năng máy phun thuốc mía, máy bón phân mía và hệ thống điều khiển thông minh. Đề xuất từ nghiên cứu năm 2006 nhấn mạnh việc đồng bộ khoảng cách hàng 1.4 m trong toàn bộ chuỗi sản xuất để tối ưu hiệu quả thiết bị. Ngoài ra, cần phát triển máy chuyên dụng cho ruộng mía lưu gốc với khả năng xử lý gốc và cỏ dại dai hơn. Với xu hướng nông nghiệp 4.0, các cảm biến đo độ ẩm đất, GPS dẫn đường và hệ thống điều chỉnh tự động sẽ nâng tầm nông nghiệp cơ giới hóa mía. Điều này không chỉ giảm giá thành sản phẩm mà còn tăng khả năng cạnh tranh của mía đường Việt Nam trên thị trường quốc tế.

6.1. Đề xuất cải tiến cho máy chăm sóc mía thế hệ mới

Cần tích hợp máy xử lý cỏ dại mía mạnh hơn, bổ sung bộ phận bón phân và cải tiến hệ thống treo để làm việc ổn định trên đất ẩm. Vật liệu chống mài mòn cũng cần được nâng cấp cho các vùng đất sỏi đá.

6.2. Vai trò của cơ giới hóa trong chiến lược phát triển mía đường

Cơ giới hóa đồng bộ là chìa khóa giúp ngành mía đường Việt Nam giảm chi phí, tăng năng suất và cạnh tranh với Thái Lan, Brazil. Thiết bị làm đất cho cây mía hiện đại sẽ là nền tảng cho nông nghiệp bền vững và thích ứng biến đổi khí hậu.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong cuộc sống hằng ngày, đường giữ một vai trò không thê thiếu trong khâu phần thức ăn của con người. Do đó đường là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội. Cây mía là nguyên liệu quan trọng của ngành công nghiệp chế biến đường ăn trên thế giới và là nguyên liệu chế biến đường duy nhất ở nước ta. Tây Ninh là tỉnh có diện tích trồng mía đứng thứ nhì sau Thanh Hoá, sản lượng chỉ đứng sau Thanh Hoá và Cần Thơ.

Điều này chứng tỏ cây mía xứng đáng là cây mũi nhọn của tỉnh, cần tập trung mọi nguồn lực dé day mạnh sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế -xã hội của cây mía trong tỉnh. Theo qui hoạch kinh tế tỉnh thì đến năm 2010 đạt diện tích 80.000 ha canh tác cây mía. Vấn đề khó khăn đặt ra hiện nay là giá thành sản phâm của cây mía, bởi vì bên cạnh nước ta là những nước có sản lượng đường lớn, trình độ canh tác , chế biến tiên tiến và do đó giá thành thấp hơn nước ta. Vì vậy để cây mía có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế thì ngoài việc tuyên chon, lai tạo các giống mia tại các viện nghiên cứu trong nước và nhập về một số giống mía ngoại cho năng suất, trữ lượng đường cao thì cần phải tiến hành cơ giới hoá việc trồng mia để giảm chi phí sản xuất, giảm nhu cau lao động trong nông nghiệp ngày càng khan hiếm như hiện nay.

Tiến hành cơ giới hoá đồng bộ cây mía giúp sản xuất chủ động hơn, có tác dụng tăng năng suất và chất lượng cây mía và vấn đề quan trọng là giá thành sản phẩm đầu ra có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Nói một cách khác cơ giới hoá đồng bộ cây mía là một chiến lược có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triên của ngành công nghiệp mía đường ở Tây Ninh nói riêng và cả nước nói chung. -11- Trong quá trình canh tác cây mía , khâu chăm sóc giữ một vai trò rất quan trọng , nó quyết định sản lượng và chất lượng cây mía. Chính vì thế, Khoa Cơ Khí Công Nghệ thuộc trường Đại học Nông Lâm Tp.HCM và nhiều trung tâm nghiên cứu máy nông nghiệp khác đã đưa ra nhiều mẫu máy làm việc tương đối hiệu quả.

Đề tiếp tục hoàn thiện hơn những mẫu máy đã có ở khâu chăm sóc mía, được sự phân công của Khoa Cơ Khí Công Nghệ Trường Đại Học Nông Lâm Tp.HCM, cùng với sự hướng dẫn của thầy Th.S Đặng Hữu Dũng và Thầy Th.S Nguyễn Văn Công Chính, chúng tôi đã tham gia nghiên cứu đề tài: TÍNH TOAN,THIET KE, CHE TẠO, KHẢO NGHIEM MAY CHAM SOC MÍA GIỮA HANG KHOANG CÁCH HANG 1.4M LIÊN HOP VOI MAY KÉO 20 HP. MUC DICH LUAN VAN Từ yêu cau thực tế ở vùng mía đường thuộc tinh Tay Ninh là phải co giới hoá các công đoạn sản xuất cây mía và dé hoàn thiện hơn ở giai đoạn chăm sóc với những yêu cầu nông học chăm sóc mía. Trên cơ sở những mẫu máy sẵn có, tham khảo thêm tài liệu, chúng tôi nghiên cứu tính toán, thiết kế, chế tạo, khảo nghiệm máy chăm sóc mía giữa hàng với khoảng cách hàng 1.4m để đáp ứng yêu cầu đặt ra. Cụ thể gồm các phần sau: - Tìm hiểu sơ bộ quá trình sinh trưởng của cây mía và yêu cầu nông học khi chăm sóc mía - Tìm hiểu tình hình cơ giới hoá cây mía ở khâu chăm sóc hiện nay ở Tây Ninh - Tìm hiểu hiệu quả làm việc của các mẫu máy chăm mia đã có.

- Tìm hiểu, lựa chọn nguồn động lực cho máy nông nghiệp. - Cải tiền nguồn động lực dé phù hợp với điều kiện làm việc. - Tính toán thiết kế máy chăm sóc giữa hàng. - Tham gia chế tạo máy chăm sóc giữa hàng.

- Tiến hành khảo nghiệm máy sơ bộ ở trường sau đó đưa lên khảo nghiệm ở vùng mía Tây Ninh. - Đánh giá kêt qua làm việc của máy và đưa ra dé nghị.TRA CỨU TÀI LIEU SÁCH BAO PHỤC VỤ TRỰC TIẾP CHỦ DE DE TÀI 3. CÁC THỜI KỲ SINH TRUONG VÀ PHÁT TRIEN CUA CÂY MIA Theo [7 15] thì chu kì sinh trưởng va phát triển của cây mía được chia làm năm thời kì chủ yếu sau: + Thời kì nảy mầm: được tính từ lúc đặt hom mía đến khi mầm mía được mọc lên. Thời kì này dài hay ngắn phụ thuộc vào đặc tính giống, chất lượng hom giống, độ âm đất và kỹ thuật trồng.

+Thời kì cây con: được xác định từ khi cây mía có lá that thứ nhất đến khi có khoảng 75% số cây trong ruộng mía có đủ 5 lá thật. Thời kì này cũng chịu sự tác động của yếu tố giống và nhiều yếu tố ngoại cảnh khác như: nhiệt độ, độ am đất, kỹ thuật canh tác,. +Thời kì đẻ nhánh: thời kì này thường bắt đầu sau khi hình thành cây con 15- 20 ngày. Lúc này cây đã có 6 -7 lá thật.

Các điểm mầm ở gốc nằm dưới mặt đất đã nảy mam. +Thời ki vươn cao: (hay còn gọi là thời kì vươn long), thời điểm này tiếp sau thời kì đẻ nhánh, kéo dai 3-5 tháng trong đó có 4 tháng vươn mạnh. Ở thời kì này ngọn cây phát triển nhanh, số lá tăng thêm liên tục, thân cây vươn cao nhanh, lóng vươn dài, đường kính thân tăng, bộ rễ phát triển mạnh. +Thời kì chín công nghiệp và trổ cờ: vào thời kì này cây mía phát triển chậm lại, đồng thời tích luỹ đường nhanh và sau đó mía thường trô cờ.

Chúng ta cần bố trí thời vụ thu hoạch trước khi mia trô cờ dé đảm bảo chất lượng. ĐẶC TINH CUA DAT TRÒNG Dat trong rat đa dạng, có nhiều loại khác nhau, mỗi loại có đặc tính riêng. Đôi với quan điêm làm dat thì kha năng chong lại tác động cơ học của các công cụ được quan tâm hàng đầu. Khả năng đó phụ thuộc vào thành phần cơ học của đất, trạng thái của -14 - chúng và những yếu tổ khác.

Vì thế cơ lý tính của đất được các nhà cơ khí quan tâm khi nghiên cứu về các công cụ làm đất. Đất là một vật xốp gồm ba thành phần : rắn, lỏng và khí. Các thành phần rắn được kết dính lại với nhau hình thành các hạt, keo đất. Giữa chúng là các lỗ hong chứa không khí và nước.

- Thành phan ran chứa khoảng 50% thê tích đất. - Thành phần lỏng và khí, mỗi loại chứa khoảng 25%. Đất trồng có nhiều đặc tính, nhưng khi thiết kế các công cụ làm đất, người ta quan tâm đến những đặc tính có liên quan trực tiếp tới : - Chế độ làm việc của công cụ (lực cản riêng, lực ma sát). - Giảm chi phí năng lượng mà đạt yêu cầu kỹ thuật nông học.

Vì vậy những đặc tính sau được các nhà cơ khí quan tâm : - Độ chặt của đất: là khả năng chống lại tác động cơ học của nó. Độ chặt cũng được hiểu đồng nghĩa với lực cản riêng của đất. - Độ âm của đất: tuỳ theo độ 4m mà lực cản riêng của đất lớn hay nhỏ. Độ ẩm thích hợp cho các loại đất như sau: + Đất cát : Wan = 8 — 10% + Dat nhe : Win = 11 — 12% + Đất trung bình : Win = 16 — 17% + Dat nặng : Wn= 18— 21% - Lực ma sát : ma sát giữa đất và công cu, khi công cụ chuyên động trong đất sẽ xuất hiện lực ma sát, được gọi là ma sát ngoại.

Lực ma sát này làm tăng lực cản, làm cho năng suất liên hợp máy giảm. - Độ dính của đất : nói lên liên kết các phan tử trong đất. Nó quan hệ mật thiết với độ âm, khi độ 4m tăng thì độ dính tăng nhưng sau đó thì lại giảm. ĐỊNH HƯỚNG QUY TRÌNH CƠ GIỚI HÓA CÂY MÍA VÙNG ĐÔNG NAM BO.

/Theo Kỷ yếu hội thảo cơ giới hoá dong bộ canh tác mia ở Tây Ninh — 10/2002/. -15- Quy trình cơ giới hóa toàn bộ cây mía ở Tay Ninh đã được lãnh dao Tinh định hướng phát triển như sau : 3. Làm đất: a) Làm đất trồng mới trên đất chuyên canh. Chuan bị mặt đồng ( rải đều, phơi ải ).

Rai phân hữu cơ và vôi ( rải đều 4 — 10 tan/ha ). Cay không lật lần 1 ( cày sâu 30 — 35 cm ). Cày không lật lần 2 ( cày sâu 30 — 35 cm ). Bừa làm nhỏ va san phẳng đất ( bừa sâu 7 — 10 cm ).

Rach hàng ( độ sâu rãnh 25 — 30 cm, khoảng cách hang 1,4 m ) b) Lam đất trồng mới trên đất luân canh. Don mặt đồng ( Bam sạch cây cỏ, sâu 5 -7 cm ) Xẻ rãnh va xới sâu (rạch sâu 25 — 30 cm, đáy xới sâu 25 -30 cm, khoảng cách hàng 1,4 m). c) Lam dat chăm sóc cho mía lựu gốc. Chuẩn bị mặt đồng (rải đều lá, phơi ải).

Bạt gốc xới móc (bạt sâu 2 — 3 em, xới sâu 15 — 20 cm). Cay không lật giữa hang (lắp hai răng, cày sâu 35 — 40 cm). Xới — cày — bón phân - lắp đất (xới cỏ, xẻ rãnh, bón phân). Trồng : Tha hom — bón lót (trồng bang hom, bón lót).

Chăm sóc : Xới, xẻ rãnh, bón thúc lần 1 (xới, xẻ rãnh, bón phân). Xới, xẻ rãnh, bón thúc lân 2 (xới cỏ, xẻ rãnh, bón phân). - 16 - - Cay, xới làm thông thoáng và diệt cỏ cho mia lần 3 3. Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh.

Thu hoạch : - Chat gốc, róc lá, chặt ngọn (mía tươi nguyên cây xếp dai).TÌNH HÌNH CƠ GIỚI HOÁ KHAU CHAM SOC CÂY MÍA Ở TÂY NINH. Đối với mía tơ : Hiện nay ở vùng mía Tây Ninh, khâu chăm sóc, làm cỏ vẫn còn làm bằng thủ công là chính hoặc là dùng trâu bò cày lật dat ra hai bên cách gốc 15 — 20 cm, với độ sâu 10 — 12 em (cày ra) để vùi cỏ giữa hàng còn cỏ trong gốc mía phải dùng công lao động thủ công. Sau đó sử dụng trâu bò cày vun gốc (cày vô). Có không ít hộ trồng mía sử dụng bằng cuốc dé vun góc tốn rất nhiều công lao động và kéo dai thời gian chăm sóc.

Đã có một số trang trại ở huyện Tân Châu, Xí nghiệp đường Nước Trong Tây Ninh và gần đây công ty Mía đường Biên Hòa (nông trường mía Thành Long) đã ứng dụng máy chăm sóc mía cho lần 3 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nên chưa được phổ biến rộng rãi, cần cải tiễn hơn nữa mới có hiệu quả. Đối với mía lưu gốc : Hiện nay, trong sản xuất diện tích mía lưu gốc gap 3 — 4 lần diện tích mia tơ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ