ĐẶT VẤN ĐỀ Kinh tế nòng hộ là một bộ phận hữu od trong nến kinh 48, là yếu tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp và đổi mới nông thon. Kinh tế hộ nông dân là một hình thức phổ biến và đang có vai trò vị tí rất lớn trong quá trình phát triển nông nghiệp ở nông thôn nước ta hiện nay. Việc nghiên cứu thực trạng kinh tế hộ nông dân để tìm ra những giải pháp nhằm thúc đầy Kinh tế hộ nông dãn phát triển theo nưỡng sản xuất hàng hod ©ð một ý nghĩa hết sức to lớn về kinh 1ế - xã hội đối với nước ta. Hoà Bình là một tỉnh miễn núi.
là vùng chuyển fiếp giữa vùng 'Đổng bằng sồng Hồng và vùng núi Tây Bắc có diện tích đất tự nhiên đứng thứ 3 và dân số đứng thứ2 trong các tinh vùng Tây Bắc. Vùng đổi núi Hoà Bình là một vũng còn nhiều Tiểm năng nông nghiệp chưa được khai thác. Kinh tế hộ nông dân ở đây còn kém phát triển, đời sống còn nhiều khó khăn. Thực trạng quy mô kinh tế hộ nông dân hiện nay như thế nào? Yếu !ố nào nhằm tạo điều kiện cho kinh tẾ nông hộ mở rộng và phát triển sản xuất theo hướng hàng hoá? Những vấn để này còn có ít thong tin và nhất là vùng đổi nui tinh Hoa Binh.
ĐẶC ĐIỂM VÙNG ĐỔI NÚI HOÀ BÌNH Hoà Bình là một tÏnh miễn nửi thuộc vùng núi Tây Bắc, có diện ích lự nhiên là 4.822,5 kmẺ chiếm 1,41% diện tích củ nước. Phía Bắp tiếp giáp ỉnh Phú Thọ: phíz Đông Nam giáp Hà Nam, Ninh Bình; phía Đông giáp fỉnh Hà Tây; phía Tây giáp tỉnh Sơn La và Thanh Hoá. Toàn lỉnh có 8 huyện. 1 thị xã (trong đô có 187 xã, 6 phường.
Hoà Bình là một tỉnh có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh và thấp dần theo hướng Tây Bắc-- Bong Nam. Hỗ sông Đà có dung tích B,5 tỷ mét khối nước phục vụ cho nhiều mục liều kinh tế và quốc phòng. Ngoài việc phục vự phái điện, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình còn cô nhiệm vụ cất lũ về mùa mưa, điều tiết nước chống hạn về mùa khô cho Đồng bằng sồng Hồng là quan trọng nhất. Theo sổ liệu thống kê năm 2000 cho thấy, dân số Hoà Bình là 772,4 nghìn người, mật độ bình quân 166 người/ km, bỗng 69% so với cả nước.
Dân số nông thôn chiếm 86.2%, dân số thành thị chiểm 13. Hoà Bình cõ 6 dân lộc anh em. trong đó dân tộc Mường chiếm 60,3%, dân tộc Kinh chiếm 31%, các dân tộc Thải, Tày, HMông, Dao chiếm 8,7%. Như vậy 68% dân số.
của lĩnh là người dân tộc ít người Hoà Bình là một tỉnh có nền văn hoá khá dày và đậm đặc đ tích khảo cổ cách ngày nay rên dưới 1 vạn năm, đó là nền "Văn hoá Hoà Binh” nổi tiếng ở Đông Nam Ã. Người Mường là dân bản địa, cùng với người Mường, các tộc người Thái.Mông di cư từ phía bắc xuống và người Kinh di cư từ phía Nam lên tạo thành một cộng đồng các đân tộc ở Hoà Bình với các lễ hội 260 "Chá Chiêng", "Sên Bản, Sên Mường", hội cầu mưa, hội hoa ban,. Những sắc phục dân lộc nhiều màu sặc sổ, những cảnh vui chơi ném còn, bắn nỏ. cổng chiếng, hát đối, nhảy sạp.
Chẳng những thế, Hoà Bình còn có về đẹp của nền văn hóa dân gian Mường. đang được cộng đồng các dân tộc hiện cư trú trên địa bàn Tỉnh kế thừa và nắng đẩn lên một tắm cao mới theo đường lỗi phát triển văn hoà của Đảng hiện nay. Vì vậy, trong nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân cẩn phải chú ý quan lâm đến tập quán canh tác, sinh sống và bản sắc văn hoá của các dãn tộc đang chung sống trên địa bàn finn để gợi ý những giải pháp và đề ra các chính sách góp phần đẩy mạnh sản xuất nâng cao đài sống vật chất và tinh thần cho các đồng bào dân tộc, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội IL THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN KINH TE HO NONG DAN THEO HUGNG SAN XUAT HANG HOA IL1. So luge vé phat trién kinh tế nông hộ sản xuất hàng hoa 4 nuéc ta thai kỳ đổi mới kinh tố.
Một iä, sẵn xuất nông nghiệp đã phát triển loàn diện. liên tục tăng trưởng cao (đạt tốc độ 4,3% năm) kể từ sau khi cá Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (4/1988). Hai là, cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch theo hướng lăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ (chiếm khoảng 30% GDP nông thôn), cày công nghiệp, rau, hoa quả (khoảng 18%). Ba lả, cơ sở hạ tổng nông thôn được cải thiện nhất là về thuỷ lợi.
Tới nay trên 84% diện tích gieo trồng lúa cả năm được tưới, tạo điều kiện quan trọng để khai hoang, tăng vụ mở rộng diện tích gieo trồng lúa (thêm 1,2 triệu ha); cây công nghiệp và một số loại cây trồng khác. Bốn iZ, nhiều nhân lố mới trong nông nghiệp đã xuất Cả nước c6 khoảng 1,5 triệu hộ nông dân đạt tiêu chuẩn hộ nông dân sản xuất kinh doanh giối và trên 11,8 vạn hộ phát triển kinh tế trang trại. Những thành tựu đạt được về nông - lâm nghiệp trong những năm vừa qua là mốc son sáng chói đảnh dấu sự sang trang từ tự túc tự cấp đến sản xuất hãng hoá. Phát triển kinh tế hộ nông đân sản xuất hàng hoá ở tỉnh Hoà Binh Săn xuất nông, lâm nghiệp của lĩnh Hoà Bình trong những năm qua, nhìn chung cố nhiều chuyển biến.
Chủ trương chuyển đổi cơ cấu cảy trồng vật nuôi, thám canh tăng vụ được nông dân hưởng ứng, quan tâm để phốt triển sản xuất hàng hoá nông, lâm nghiệp phục vụ như cẩu tiêu dùng và chế biến. Diện tích các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao được mở rộng. Phong trào đưa giống mới vào sản xuất, trình độ thâm canh. tăng vụ ứng dụng với khoa học công nghệ ngày mội nâng cao.
Đi đôi với phát tiển trồng trọt trong những năm qua công tác chăn nuôi đã đi vào thâm canh tăng năng suất. chất lượng đản gia súc, gia cắm ở một số nơi được nàng lên, cổng tác lai tạo giống mới như bò lai Sind, bò sữa, lợn hướng nạc đã được chú ý phát triển. Năm 2000 chăn nuôi đã đạt kết quả như sau: Đàn trâu của tỉnh đạt 126.386 con, đèn lợn 277.882 con, đàn gia cẩm 2. Sản phẩm thị! lợn hơi 11.43 tấn, thịt trâu bò hơi 2.
Sản lượng gia cầm các loại là 2. Tốc độ táng trưởng bình quân đàn gia súc, gia cầm đạt từ 3,5 - 6,0%/năm. iện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng năm 2000 Cây trắng tích Năng suất Sản lượng.000 Về lâm nghiện trong những năm qua đã chuyển trọng lâm sang bảo vệ và phải triển tải nguyên rừng. Đẩy mạnh công tác trồng rừng theo các chương trình và dự án.
khoanh nuôi rừng gắn với phát triển lâm nghiệp xã hội, thực hiện tốt chủ trương giao đất khoán rừng cho các hộ gia đĩnh gắn với việc xây dựng và phát triển kinh tế trang trại. toàn nh đã trồng.800 ha rừng các loại II. Một số kết luận rút ra từ lý luận và thực tiên Từ lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại trên thế giới và trong nước như. đã nêu ở trên, chúng tôi có nhận xét về phát triển kinh tế hộ theo hướng sản xuất hàng hoá như sau: Kinh lẽ hộ gắn với sản xuất hàng hoá là bước fiển bộ mới về tổ chức sẵn xuất nông nghiệp, phát triển cao cổa kinh lế hộ nông dân sẵn xuất hàng hoá là kinh tế trang trại gia đình.
Trang trại gia đình là loại hình thích hợp, phể biến nhất trên Ihể giới, chiếm khoảng 80- 90% lổng số trang trại. Đây là hình thức lấy hộ gia đình nan lang dé san xuất nông. sản hàng hoá, sử dụng lao động gia đình trong quản lý và sản xuất, có thể sử dụng lao động tàm thuê thường xuyên hoặc theo thời vụ. Kinh tế trang trại gia định có ưu thế là có khả năng dung nạp các trình độ sản xuất nông nghiệp khác nhau về xã hội hoá, chuyên môn hoá; có khả năng dung nạp các quy mò sản xuất khác nhau (nhỏ, vữa và lớn): các cấp độ công nghệ khác nhau, tách biệt hoặc.
đan xen nhau, từ thô sơ đến hiện đại. Như vậy trang trai gia đình là loại hình tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ tổ chức quản lý, khoa học công nghệ và phù hợp với điều kiện của nông nghiệp nước a trong quả trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, kinh tế hộ sản xuất hàng hoá phát triển theo hưồng kinh doanh tổng hợp. saư đó từng bước đi vào sản xuốt tập trung chuyên canh lớn.
Trong điểu kiện của nền kĩnh tế thị trưởng, sự phát triển của kinh tế hộ nông dân phải được. qắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, với thị trường trong và ngoài nước và thường cũ trình độ chuyên môn hoá sản xuất cao. Nguồn vốn bình quân nông hộ tại thời điểm điểu tra tính theo mức thu nhập năm 2000 Chỉ tiêu Hộ Giấu Hộ trên Trung _ Hộ Trung binh Chung. binh các hộ 1 Tổng nguồn vốn (tr.
Vốn khác 37 15 16 28 Nguồn: Số liệu từ phiếu điều tra Phân tích theo mức thu nhập thì các hộ có chênh lệch đáng kể về vốn và nguồn vốn đầu tư. Hộ giầu là 18.183 triệu đồng, hộ trên trung bình là 12,333 triệu đồng và hộ trung bình là 10,099 triệu đồng. Như vậy, hộ giàu có mức vốn gấp 1,8 lần hộ trung bình. Cho nên những hộ giầu thường có mức vốn vay cao hơn các hộ khác, thể hiện sự mạnh dạn đầu tư và biết tạo nguồn vốn để đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.
Két quả sản xuất hàng hoá của nóng hộ Sản xuất hàng hoá là xu thế vận động của kinh tế hộ nông dân. Để đánh giá trình độ phát triển kinh tế hàng hoá có thể sử dụng 2 chỉ tiêu chủ yếu: Quy mô giá trị sản phẩm hàng hoá và tỷ suất giá trị sản phẩm hàng hoá. Trong hộ điều tra và phân tích ở đây là giá trị trên cơ sở sản phẩm lưu thông trên thị trường. Các sản phẩm hàng hoá của hộ nông dân chủ yếu là nông sản.
Rừng trồng đang trong thời kỳ chăm sóc tu bổ chưa khai thác, ở diện tích khoanh nuôi bảo vệ đã có khai thác, song chưa nhiều, vì vậy sản phẩm hàng hoá còn rất ít.