Chương 1. Các tính chất điện tử cơ bản của Graphene Bắt đầu từ cấu trúc mạng của Graphene ta đi vào khảo sát các tính chất của mạng thuận và mạng đảo của Graphene. Cấu trúc vùng của Graphene được tính toán với phương pháp gần đúng liên kết mạnh (tight-binding). Cuối cùng thực hiện khai triển gần đúng khối lượng hiệu dụng sẽ cho phương trình Dirac mô tả các giả hạt electron trong mạng Graphene.
Cấu trúc tinh thể Trước tiên ta bắt đầu từ việc khảo sát cấu trúc tinh thể của Graphene. Tinh thể Graphene là một mạng hai chiều các nguyên tử Carbon sắp xếp tại đỉnh các ô lục giác của mặt phẳng giống như bề mặt tổ ong. Ba trong số bốn điện tử hóa trị của Carbon hình thành ba orbital lai hóa sp 2 , thực hiện các liên kết sigma ( ) với các nguyên tử lân cận bảo đảm sự bền vững của mạng, điện tử cuối cùng thực hiện liên kết pi ( ) không định xứ (còn gọi là liên kết liên hợp pi ( )) trên toàn mạng quyết định các tính chất Hình 5. Mô hình mạng tinh thể Graphene.
điện của Graphene. Mạng tinh thể của Graphene là mạng tam giác với các vector tịnh tiến cơ sở a1 a( 3 / 2,1 / 2 ) , a 2 a( 3 / 2, 1 / 2 ) với gốc mạng gồm hai nguyên tử Carbon ( A,B ) (xem Hình 5 và 6), trong đó a là hằng số mạng. Dễ dàng thấy rằng a 3acc trong đó acc là độ dài liên kết Carbon-Carbon quen thuộc trong hóa học hữu cơ. Từ các vector tịnh tiến cơ sở ta có thể xây dựng các vector mạng đảo và vùng Brillouin thứ nhất của Graphene một cách dễ dàng như chỉ ra trên Hình 7.
Vùng Brillouin thứ nhất của Graphene có dạng lục giác đối xứng với trục quay bậc 6 qua điểm . Trong sáu đỉnh của vùng Brillouin chỉ có hai đỉnh ( K , K ') là không tương đương, các đỉnh còn lại thu được bằng cách tịnh tiến các điểm này -7- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên một vector mạng đảo. Có thể tưởng tượng mạng tinh thể Graphene gồm hai mạng tinh thể tam giác giống nhau A và B lồng vào nhau. Như trong tính toán cấu trúc vùng dưới đây chỉ ra chi tiết, sự đồng nhất về cấu trúc của hai mạng thành phần dẫn đến một hệ quả quan trọng là sự suy biến của trạng thái electron trong tinh thể tại các đỉnh của vùng Brillouin.
Chính do sự suy biến đó, kết quả phép gần đúng khối lượng hiệu dụng cho thấy electron trong tinh thể Graphene được mô tả bằng phương trình Dirac. Vì vậy các điểm này còn được gọi với tên “điểm Dirac”. Cấu trúc vùng năng lượng Trên cơ sở các hiểu biết về cấu trúc tinh thể, ta tiến hành khảo sát cấu trúc vùng năng lượng (band-structure) của electron trong Graphene. Cấu trúc vùng năng lượng của Graphene đã được nghiên cứu khá chi tiết bằng tính toán với gần đúng Hình 6.
Các vector tịnh Hình 7. Các vector mạng đảo và vùng Brillouin tiến cơ sở. liên kết mạnh (tight-binding) và ab-initio [5]. Ở đây ta nêu ra tính toán bằng phương pháp gần đúng liên kết mạnh và kết quả so sánh với phương pháp ab-initio trích dẫn từ [5].
Như đã nói, ba điện tử hóa trị của nguyên tử Carbon tham gia vào liên kết cộng hóa trị với lai hóa sp 2 , điện tử hóa trị thứ tư tham gia vào hình thành vùng dẫn của Graphene. Thực chất là ta sẽ thu được liên kết liên hợp pi ( ) trên toàn mạng hai chiều Graphene, electron thứ tư của tất cả các nguyên tử Carbon tạo thành lớp khí điện tử hai chiều trên mặt Graphene gây nên các tính chất điện đặc thù của Graphene. -8- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên Hàm sóng của electron trong gần đúng liên kết mạnh được tìm dưới dạng tổ hợp tuyến tính của hai hàm Block liên kết mạnh trên hai mạng thành phần: C A A CB B (1.1) Trong đó: 1 A ( k ,r ) N0 R e ik R p z ( r RA R ) 1 B ( k ,r ) N0 R e ik R p z ( r RB R ) Với pz ( r ) là hàm nút nguyên tử quen thuộc trong vật lý chất rắn (thông thường ta lấy pz ( r ) chính là Orbital pz của nguyên tử Carbon), N0 là số ô nguyên tố mà trên đó ta áp dụng điều kiện biên tuần hoàn Born-Von Karman. Dưới dạng đơn giản nhất, năng lượng của trạng thái electron là trị riêng của Hamiltonian liên kết mạnh (điều này tương ứng với việc ta coi các hàm cơ sở là trực giao, tức là bỏ qua các tích phân phủ theo tinh thần của phương pháp LCAO-trực giao): H H AB H AA (1.2) H BA H BB Các yếu tố ma trận được tính trực tiếp theo định nghĩa: H AA 1 / N0 ei k( R' R ) pz A,R pz A,R' R ,R' H AB 1 / N0 ei k ( R' R ) pz A,R pz B ,R' R ,R' Trong đó ta ký hiệu pz A / B ,R pz ( r R A / B R ).
Thực hiện tính toán đối với các mạng vô hạn ( N0 ) (một cách chặt chẽ là các mạng đủ lớn sao cho số lượng các nguyên tử ở biên là không đáng kể với số lượng các nguyên tử của toàn mạng), ta lưu ý rằng trong các biểu thức trên, khi cho một trong hai chỉ số ( R , R' ) biến đổi ta thấy tổng có tính đối xứng đối với tất cả các vị trí khác nhau trên mạng của chỉ số kia, kết quả là thừa số 1/ N 0 sẽ tự động triệt tiêu khi thực hiện lấy tổng theo một chỉ số, do đó có thể viết lại các số hạng này -9- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên dưới dạng : H AA eik R' pz A,0 pz A,R' R' H AB ei k R' pz A,0 pz B ,R' R' Khai triển hệ thức trên, giữ lại đến các phối trí cấp hai: 6 H AA pz A,0 | H | pz A,0 ei k R p pz A,0 | H | pz A,R p (1.3) p 1 H AB pz A,0 H pz B ,0 e i k .4) Trong đó biểu thức của H AA gồm một số hạng cấp không và sáu số hạng cấp hai, tương ứng với năng lượng nút và số hạng tích phân phủ của sáu nguyên tử cùng loại gần nhất, biểu thức của H AB gồm ba số hạng cấp một tương ứng với ba số hạng tích phân phủ của ba nguyên tử khác loại gần nhất. Ngoài ra ta có H BB H AA do tính đối xứng của hai mạng thành phần, và H AB H BA* do tính liên hợp Hermite của toán tử Hamilton. Như đã nói, với phương pháp LCAO-trực giao, ta không cần tính các số hạng xen phủ của hàm sóng. Đặt: pz A,0 | H | pz A,0 pz A,0 | H | pz A,R p pz A,0 | H | pz B ,0 pz A,0 | H | pz B , a1 pz A,0 | H | pz A, a2 Ta có: 6 H AA H BB ei k R p (1.6) Hamiltonian liên kết mạnh như vậy có thể chéo hóa dễ dàng, kết quả là ta thu được hệ thức tán sắc dưới dạng: - 10 - Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên E( k ) f ( k ) 3 f ( k ) (1.8) Hoặc khai triển theo các tọa độ trực giao: 3k x a kya kya f ( k ) 4(cos cos cos 2 ) 2 (1.9) 2 2 2 Ta thấy ngay xấp xỷ bằng thế ion hóa của electron p trong nguyên tử Carbon khi ba điện tử còn lại ở trong trạng thái lai hóa sp 2.
Trong các tính toán vật lý quan tâm đến dạng của cấu trúc vùng, ta có thể lấy làm gốc tính năng lượng do đó trong công thức trên ta đặt 0. Theo số liệu từ [4] 0. Thông thường các đóng góp của các phối trí cấp hai là nhỏ nên nói chung ta dừng lại ở các phối trí cấp một và đặt 0 , kết quả thu được hệ thức đơn giản dưới Hình 8. Cấu trúc vùng năng lượng Hình 9.
Mặt Fermi gồm các điểm rời của Graphene. rạc của Graphene. Trong công thức, dấu cộng mô tả cấu trúc vùng dẫn nằm ngay trên vùng hóa trị mô tả bởi dấu trừ. Vùng Brillouin của Graphene có dạng lục giác mô tả trên Hình 7.
Vùng dẫn và vùng hóa trị tiếp xúc nhau ở sáu đỉnh của vùng Brillouin (Hình 8, 9), trong đó ta nhắc lại rằng chỉ có hai điểm K và K ' là không tương đương. Tại các điểm này (điểm Dirac) hàm sóng của electron suy biến tương ứng với hai trạng thái cơ sở trên mạng A và B. Như thấy rõ từ phương pháp gần đúng liên kết mạnh, toán tử Hamilton khi đó suy biến bội hai đối với hai hàm cơ sở. Đối với Graphene tinh khiết, vùng hóa trị hoàn toàn lấp đầy bởi các - 11 - Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên điện tử đóng góp từ các nút, trong khi đó vùng dẫn hoàn toàn trống, và như vậy mặt Fermi của Graphene là tập rời rạc gồm hai điểm K và K '.
Như vậy, Graphene chính là một bán kim điểm hình. Ta lưu ý rằng khi tính đến bổ chính cấp hai như vậy, cấu trúc vùng của Graphene không còn tính đối xứng giữa vùng dẫn và vùng hóa trị qua mặt Fermi. Tuy nhiên như đã nói thông thường trong tính toán hầu hết các hiện tượng ta chỉ giữ Hình 10.