ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Khoa Vật lý Sinh viên: Nguyễn Hải Châu TRẠNG THÁI GIẢ LIÊN KẾT TRONG GRAPHENE LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỆ ĐẠI HỌC CHÍNH QUY Ngành: Vật lý lý thuyết Thầy giáo hướng dẫn: GS. Nguyễn Văn Liễn Hà nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên Lời cảm ơn Tôi tin rằng bất kỳ sinh viên nào khi viết những dòng cuối cùng này để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình đều có nhiều những cảm nghĩ riêng tư. Đối với tôi, bốn năm học đại học đã giúp tôi lớn mạnh về nhiều mặt. Trường đại học không chỉ là một môi trường khoa học, nó còn là môi trường giúp sinh viên trưởng thành. Không tránh khỏi những khó khăn về điều kiện vật chất và tinh thần, không tránh khỏi va vấp mà ở đâu trong cuộc sống cũng có, vượt lên tất cả những điều đó là tình cảm thầy trò, bạn bè, anh em sinh viên trong học tập … Có được tất cả những điều đó là nhờ sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, những người đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi không chỉ về chuyên ngành mà còn nhiều mặt khác của cuộc sống. Cha mẹ và anh chị luôn là người động viên tinh thần từ những ngày tôi học phổ thông. Và không thể không kể đến các bạn sinh viên đã giúp đỡ tôi trong học tập và những vấn đề khác nhau trong cuộc sống, giúp tôi hiểu hơn tình cảm con người với con người trong khó khăn. Không thể nào kể đến tên tất cả mọi người trong trang giấy ngắn ngủi này, tôi chỉ dám bày tỏ lòng biết ơn đến tất cả mọi người. Tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này, thầy Nguyễn Văn Liễn. Những ngày cuối khóa, may mắn được học tập ở viện Vật lý lý thuyết và Điện tử, dưới sự chỉ bảo tận tình của thầy cùng với các anh chị ở trung tâm Vật lý lý thuyết, tôi đã được hiểu thêm một chút về hoạt động học tập và nghiên cứu, về quan hệ con người trong khoa học. Và cuối cùng tôi xin cảm ơn bạn Hoàng Mạnh Tiến, bạn cùng lớp đã kiểm tra tính toán trực tiếp, mà tôi có lẽ cũng không thể hoàn thành luận văn này nếu không có sự giúp đỡ đó. Hà Nội 25 tháng 5 năm 2008 Sv. Nguyễn Hải Châu Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên Mục lục Mở đầu . Các tính chất điện tử cơ bản của Graphene . Cấu trúc tinh thể . Cấu trúc vùng năng lượng . Phương trình Dirac. Các trạng thái giả liên kết . Giải phương trình Dirac với thế một chiều bằng phương pháp T-ma trận . Các trạng thái giả liên kết . Giải thích hiện tượng bằng mô hình liên kết mạnh một chiều .45 Tài liệu tham khảo .46 -1- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên Mở đầu Một trong những điều kỳ lạ đã từng làm ngạc nhiên các nhà hóa học chính là sự thống nhất đến hoàn hảo của ngành hóa học hữu cơ. Sự biến đổi hóa học phong phú và bí ẩn của thế giới hóa sinh học, liên quan đến hợp chất hữu cơ, thật ngạc nhiên lại qui về sự biến đổi về hình thái liên kết của một loại nguyên tử duy nhất: nguyên tử Carbon. Về mặt hóa học mà nói, điều đó có cơ sở là cấu trúc điện tử đặc biệt của nguyên tử Carbon, giúp cho nó có khả năng hình thành các liên kết hữu cơ-các mạch Carbon của phân tử sống. Khả năng liên kết mềm dẻo như vậy của nguyên tử Carbon không những có ý nghĩa với hóa học hữu cơ mà còn dẫn đến sự tồn tại của các hệ kết tập khác nhau của nguyên tử Carbon. Các dạng thù hình khác nhau, từ than chì cho đến kim cương của Carbon không chỉ phong phú Hình 1. Phân tử AND. về hình thái mà còn độc đáo cả về tính chất. Nửa cuối thế kỷ 20, khi vật lý học đi sâu nghiên cứu các cấu trúc nano, các nhà vật lý một lần nữa chạm trán với nguyên tố độc đáo có một không hai này. Chúng ta đều biết rằng công nghệ bán dẫn với transistor truyền thống đã phát triển hết sức mạnh mẽ suốt từ thập kỷ 50. Bằng chứng hùng hồn cho sự phát triển đó chính là định luật Moore với sự tăng theo hàm mũ của mật độ transistor trên chip điện tử Silicon. Tuy nhiên, mật độ transistor sẽ đạt đến giới hạn mà tại đó các nguyên lý hoạt động cho transistor cổ điển không còn đúng nữa, đó là vấn đề chính mà các nhà vật lý và kỹ thuật đã lo ngại khi tiếp tục giảm kích thước “bóng bán dẫn”. Thúc đẩy về kỹ thuật khai sinh ra khoa học nano và công nghệ nano. Đồng thời với việc nghiên cứu các hiệu ứng mới xảy ra ở cấu trúc nano là việc Hình 2. Transitor truyền nghiên cứu công nghệ chế tạo và ứng dụng của linh thống. Công nghệ nano đặt ra các yêu cầu mới cho vật liệu. Việc tìm kiếm vật liệu mới làm cơ sở cho linh kiện nano đóng vai trò then -2- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên chốt trong cuộc cách mạng công nghệ hiện đại này. Trong quá trình tìm kiếm vật liệu hợp lý làm cơ sở cho nền công nghệ nano trong tương lai, người ta hy vọng rằng chính Carbon, với những tính chất độc đáo của nó sẽ giúp các nhà vật lý giải quyết được vấn đề này. Nhiều người cho rằng, rất có thể trong tương lai Carbon sẽ thay thế cho Silic, và công nghệ bán dẫn truyền thống sẽ được thay thế bằng công nghệ nano dựa trên các nguyên tắc hoàn toàn mới. Các cấu trúc nano của nguyên tố Carbon như quả cầu Fullerenes C60 (Fullerenes Carbon ball C60), ống nano Carbon (Carbon nano-tube), dải nano Carbon (Carbon nano-ribbon) đã và đang được nghiên cứu sôi nổi trong lĩnh vực vật lý nano trong mấy thập kỷ qua. Về nguyên tắc, các cấu trúc đó đều có một nền cấu trúc chung là cấu trúc Graphene. Graphene, Graphite, Carbon Nano-tube và Fullerenes C60 Carbon-ball. Graphene đơn giản là một lớp đơn nguyên tử mạng của tinh thể than chì. Mặc dù vậy, mới chỉ gần đây, năm 2004 (theo [5]), người ta mới tạo được một lớp đơn nguyên tử như vậy trên một đế SiO2 phục vụ cho nghiên cứu. Cũng cần nói rằng, điều đó không có nghĩa là sự tồn tại của Graphene trong tự nhiên là một hiện tượng nặng về nhân tạo: chính khi ngòi bút chì của họa sĩ mài trên giấy, các lớp nguyên tử than chì bị tách ra đã hình thành các cấu trúc Graphene ngay trên trang giấy. Như đã nói, cấu trúc Graphene mang tính cơ sở về lý thuyết của các cấu trúc nano Carbon. Từ mặt phẳng Graphene ta có thể hình thành lên các ống nano Carbon bằng cách cuộn mặt phẳng mạng theo một chiều nào đó, với một chu kỳ nào đó, để -3- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên thu được các ống nano Carbon khác nhau. Hoặc có thể cắt mặt Graphene theo một đường nào đó, với độ rộng nào đó, để thu được các dải nano Carbon khác nhau. Dạng đường biên cuốn cũng như đường biên cắt phân biệt các ống nano Carbon và dải nano Carbon khác nhau với các tính chất điện tử khác nhau. Như trình bày trong [5] về ống nano Carbon và trong [11] về dải nano Carbon, tính chất điện (nói riêng) của chúng phụ thuộc trực tiếp vào dạng biên. Điều đó cho thấy sự đa dạng về tính chất điện tử của các cấu trúc này, cho phép thực hiện các cấu trúc khác nhau với các mục đích kỹ thuật khác nhau. Sự linh hoạt về cấu trúc và tính chất như vậy là cơ sở đảm bảo cho khả năng chế tạo các linh kiện nano phong phú về tính năng trên một loại vật liệu đơn giản. Về lý thuyết, hệ khí điện tử hai chiều hình thành trong Graphene có tính chất khác biệt so với các hệ điện tử hai chiều thông thường trong các dị cấu trúc bán dẫn khiến cho nghiên cứu lý thuyết về Graphene trở lên hết sức lý thú. Cấu trúc tinh thể đặc biệt của Graphene là nguyên nhân tính chất đặc biệt về cấu trúc vùng năng lượng (band-structure) của Graphene. Kết quả là các kích thích sơ cấp (elementary-excitations) của hệ điện tử (chất lỏng lượng tử Fermi) trong tinh thể Graphene là các lượng tử không tuân theo phương trình theo kiểu Schrodinger. Khí điện tử hai chiều trong Graphene là khí điện tử hai chiều giả tương đối tính, chúng được mô tả bằng phương trình tựa Dirac Hình 4. Sự hình thành các cấu trúc nano khác nhau từ Graphene. (Dirac-like equation) hai chiều cho hạt không khối lượng. Giống như các hạt tương đối tính, hành vi của các giả hạt Dirac này đôi khi rất lý thú. Năm 2006 , Katsnelson và các đồng tác giả mô tả hiện tượng chui ngầm Klein1, hay nghịch lý Klein trong Graphene [8]. Khác với hiện tượng chui ngầm cổ 1 Hiện tượng chui ngầm Klein đề xuất năm 1930 bởi O.Klein dựa trên phương trình Dirac. Đó là hiện tượng chui ngầm của electron vào miền có thế rất cao (so với khối lượng nghỉ của electron), mà theo quan niệm cơ lượng cổ điển lẽ ra phải là miền cấm đối với electron. Một hiện tượng khác tương đương với nghịch lý Klein (thường gọi là Chiral Tunneling) là xác suất chui ngầm của electron qua một rào thế vuông góc đủ cao đạt gần đơn vị và giảm theo sự tăng độ cao bờ thế (điều này trái ngược với quan niệm suy từ phương trình Schrodinger: rào thế cao sẽ làm suy giảm mạnh sự chui ngầm của electron). -4- Luận văn tốt nghiệp Hà Nội ngày 25 tháng 5 năm 2008 n Sv.Nguyễn Hải Châu Trường Đại học khoa học Tự nhiên điển, xác suất chui ngầm của electron trong trường hợp này phụ thuộc trực tiếp vào xung lượng ngang của electron2. Nói riêng, khi xung lượng ngang bằng không, xác suất chui ngầm của electron luôn bằng một, không phụ thuộc vào độ cao cũng như hình dạng bờ thế. Hiện tượng chui ngầm Klein khiến cho việc cầm tù electron để tạo các Quantum Dot trở thành một thách thức đối với vật lý. Mà như chúng ta đều biết, trong vật lý nano các Quantum Dot là các “viên gạch” xây dựng nên các linh kiện nano.
Tổng quan nghiên cứu
Graphene, một lớp nguyên tử carbon đơn lớp với cấu trúc mạng lục giác, đã trở thành tâm điểm nghiên cứu trong lĩnh vực vật lý vật liệu nano nhờ những tính chất điện tử độc đáo và tiềm năng ứng dụng trong công nghệ nano. Từ năm 2004, khi lớp graphene đơn nguyên tử được tạo thành trên đế SiO2, các nghiên cứu đã tập trung vào việc hiểu rõ các tính chất điện tử cơ bản và các trạng thái liên kết trong vật liệu này. Vấn đề nghiên cứu chính của luận văn là khảo sát các trạng thái giả liên kết của electron Dirac trong các cấu trúc Quantum Dot graphene, đặc biệt là tính toán thời gian sống và độ rộng mức năng lượng của các trạng thái này bằng phương pháp T-ma trận. Mục tiêu cụ thể là phân tích ảnh hưởng của các tham số như xung lượng ngang, khối lượng hiệu dụng, và hình dạng bờ thế đến các trạng thái giả liên kết trong hệ một chiều. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hệ Quantum Dot graphene với các dạng bờ thế một chiều như bờ thế vuông góc và bờ thế hình thang, trong khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2004 đến 2008 tại Viện Vật lý lý thuyết và Điện tử, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ý nghĩa của nghiên cứu được thể hiện qua việc cung cấp hiểu biết sâu sắc về cơ chế cầm tù electron Dirac trong graphene, góp phần phát triển các linh kiện nano dựa trên vật liệu carbon với hiệu suất và tính năng vượt trội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên hai khung lý thuyết chính: mô hình liên kết mạnh (tight-binding) và phương trình Dirac hai chiều cho electron trong graphene. Mô hình liên kết mạnh được sử dụng để tính toán cấu trúc tinh thể và vùng năng lượng của graphene, trong đó mạng tinh thể graphene được mô tả là mạng tam giác gồm hai mạng con A và B xen kẽ, với hằng số mạng a ≈ 3acc (acc là độ dài liên kết Carbon-Carbon). Phương trình Dirac hai chiều được áp dụng để mô tả các giả hạt electron không khối lượng trong hệ, thể hiện tính chất giả tương đối tính đặc trưng của electron trong graphene. Các khái niệm chính bao gồm: điểm Dirac (nơi vùng dẫn và vùng hóa trị tiếp xúc), trạng thái giả liên kết (quasi-bound states) với thời gian sống hữu hạn, hiện tượng chui ngầm Klein (Klein tunneling) đặc trưng cho electron Dirac, và phương pháp T-ma trận dùng để giải phương trình Dirac trong thế một chiều không đổi từng đoạn. Ngoài ra, mô hình liên kết mạnh một chiều được sử dụng để giải thích các hiện tượng cầm tù electron và sự xuất hiện của các trạng thái giả liên kết trong hệ.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu chính là các phép tính lý thuyết và mô phỏng số dựa trên phương pháp T-ma trận để giải phương trình Dirac trong các thế một chiều mô phỏng Quantum Dot graphene. Cỡ mẫu nghiên cứu là các hệ một chiều với các dạng bờ thế khác nhau: bờ thế vuông góc, bờ thế hình thang với các độ dày thành nghiêng khác nhau. Phương pháp chọn mẫu là lựa chọn các dạng thế điển hình đại diện cho các cấu trúc nano graphene thực tế. Phân tích được thực hiện bằng cách tính toán ma trận truyền T(n,0) liên kết các miền thế không đổi, từ đó xác định phổ năng lượng phức của các trạng thái giả liên kết thông qua điều kiện T22(E) = 0. Timeline nghiên cứu kéo dài trong khoảng năm 2004-2008, với các bước chính gồm: xây dựng mô hình lý thuyết, phát triển thuật toán tính toán T-ma trận, thực hiện tính toán số và phân tích kết quả, so sánh với các mô hình bán cổ điển và các nghiên cứu trước đó.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
- Phổ năng lượng và trạng thái giả liên kết trong Quantum Dot graphene: Kết quả tính toán cho thấy phổ năng lượng của các trạng thái giả liên kết có phần thực nằm trong khoảng 80-110 meV với các trạng thái bền nhất, trong khi các trạng thái năng lượng thấp có phần ảo lớn, biểu thị thời gian sống ngắn. Điều này trái ngược với hệ electron Schrodinger cổ điển, nơi trạng thái giả liên kết bền thường có năng lượng thấp hơn.
- Ảnh hưởng của xung lượng ngang và khối lượng hiệu dụng: Khi tăng xung lượng ngang (k_y) và khối lượng hiệu dụng electron, phần ảo của năng lượng các trạng thái giả liên kết giảm, dẫn đến thời gian sống tăng lên, cải thiện khả năng cầm tù electron.
- Hiện tượng chui ngầm Klein và cầm tù electron: Với xung lượng ngang bằng không và khối lượng hiệu dụng bằng không, electron Dirac có xác suất chui ngầm gần như đơn vị qua mọi bờ thế, khiến việc cầm tù electron trở nên khó khăn. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các trạng thái giả liên kết vẫn có thể xảy ra với các giá trị xung lượng ngang và khối lượng khác không.
- Ảnh hưởng của hình dạng bờ thế: Bờ thế hình thang với thành nghiêng thoai thoải làm tăng độ dày miền cấm bán cổ điển, giảm sự chui ngầm và kéo dài thời gian sống của các trạng thái giả liên kết so với bờ thế vuông góc. Các tính toán với độ dày thành nghiêng d = 5, 50, 100 nm cho thấy sự dịch chuyển và thay đổi độ rộng mức năng lượng rõ rệt.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của các phát hiện trên bắt nguồn từ tính chất giả tương đối tính của electron trong graphene, được mô tả bằng phương trình Dirac hai chiều. Sự khác biệt về phổ năng lượng so với electron Schrodinger cổ điển được giải thích bởi hiện tượng chui ngầm Klein, trong đó electron không khối lượng có thể xuyên qua rào thế cao với xác suất gần 1 khi xung lượng ngang bằng 0. Các kết quả tính toán được minh họa qua đồ thị contour của hàm |T22(E)| trên mặt phẳng phức, cho thấy các cực tiểu tương ứng với các trạng thái giả liên kết. So sánh với các nghiên cứu trước đây cho thấy sự phù hợp về mặt định tính, đồng thời bổ sung thêm các phân tích về ảnh hưởng của hình dạng bờ thế và các tham số vật lý khác. Ý nghĩa của các kết quả này là cung cấp cơ sở lý thuyết vững chắc cho việc thiết kế các linh kiện nano dựa trên graphene, đặc biệt là các Quantum Dot với khả năng điều khiển trạng thái điện tử hiệu quả.
Đề xuất và khuyến nghị
- Phát triển các cấu trúc Quantum Dot graphene với bờ thế hình thang có thành nghiêng tối ưu nhằm tăng thời gian sống của các trạng thái giả liên kết, nâng cao hiệu suất cầm tù electron. Thời gian thực hiện: 1-2 năm; chủ thể: các nhóm nghiên cứu vật liệu nano và thiết kế linh kiện.
- Tăng cường nghiên cứu ảnh hưởng của xung lượng ngang và khối lượng hiệu dụng qua điều chỉnh kích thước và hình dạng dải nano carbon để kiểm soát phổ năng lượng và trạng thái liên kết. Thời gian: 1 năm; chủ thể: các phòng thí nghiệm vật lý lý thuyết và thực nghiệm.
- Ứng dụng phương pháp T-ma trận kết hợp mô phỏng số cao cấp để khảo sát các hệ phức tạp hơn như Quantum Dot đa bờ thế hoặc có từ trường ngoài nhằm mở rộng hiểu biết về các trạng thái giả liên kết trong graphene. Thời gian: 2-3 năm; chủ thể: các viện nghiên cứu và trung tâm tính toán khoa học.
- Khuyến khích hợp tác đa ngành giữa vật lý lý thuyết, vật liệu và kỹ thuật để phát triển các linh kiện nano graphene có tính năng điều khiển trạng thái điện tử chính xác, phục vụ cho công nghệ bán dẫn thế hệ mới. Thời gian: liên tục; chủ thể: các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Nhà nghiên cứu vật lý lý thuyết và vật liệu nano: Nắm bắt các phương pháp tính toán tiên tiến và các hiện tượng vật lý đặc trưng của electron Dirac trong graphene, phục vụ cho nghiên cứu cơ bản và ứng dụng.
- Kỹ sư phát triển linh kiện bán dẫn và nano: Áp dụng kiến thức về trạng thái giả liên kết và thiết kế bờ thế để tối ưu hóa các linh kiện nano graphene, nâng cao hiệu suất và độ ổn định.
- Sinh viên và học viên cao học ngành vật lý và công nghệ vật liệu: Học tập các phương pháp giải tích và số trong vật lý chất rắn, đặc biệt là mô hình liên kết mạnh và phương trình Dirac trong hệ nano.
- Các nhà quản lý và hoạch định chính sách khoa học công nghệ: Hiểu rõ tiềm năng và thách thức trong nghiên cứu graphene, từ đó định hướng đầu tư và phát triển công nghệ nano trong nước.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao electron trong graphene được mô tả bằng phương trình Dirac thay vì Schrodinger?
Electron trong graphene có tính chất giả tương đối tính với vận tốc Fermi cao và không khối lượng nghỉ, do đó phương trình Dirac hai chiều mô tả chính xác hơn các trạng thái và phổ năng lượng gần điểm Dirac so với phương trình Schrodinger cổ điển. -
Hiện tượng chui ngầm Klein ảnh hưởng thế nào đến khả năng cầm tù electron trong Quantum Dot graphene?
Chui ngầm Klein làm cho electron với xung lượng ngang bằng không có xác suất xuyên qua rào thế gần như 1, khiến việc cầm tù electron trở nên khó khăn, đặc biệt là các trạng thái năng lượng thấp không bền. -
Phương pháp T-ma trận được sử dụng như thế nào trong nghiên cứu này?
Phương pháp T-ma trận cho phép mô tả liên hệ biên độ sóng giữa các miền thế không đổi trong hệ một chiều, từ đó xác định phổ năng lượng phức và các trạng thái giả liên kết thông qua điều kiện T22(E) = 0. -
Ảnh hưởng của hình dạng bờ thế đến các trạng thái giả liên kết là gì?
Bờ thế hình thang với thành nghiêng thoai thoải làm tăng độ dày miền cấm bán cổ điển, giảm sự chui ngầm và kéo dài thời gian sống của các trạng thái giả liên kết so với bờ thế vuông góc. -
Làm thế nào để tăng thời gian sống của các trạng thái giả liên kết trong graphene?
Tăng xung lượng ngang, khối lượng hiệu dụng electron và thiết kế bờ thế có thành nghiêng thoai thoải là các giải pháp hiệu quả để kéo dài thời gian sống, cải thiện khả năng cầm tù electron trong Quantum Dot graphene.
Kết luận
- Luận văn đã hoàn thành việc tính toán thời gian sống và độ rộng mức năng lượng của các trạng thái giả liên kết electron Dirac trong Quantum Dot graphene bằng phương pháp T-ma trận.
- Phát hiện sự khác biệt cơ bản giữa electron Dirac và electron Schrodinger trong khả năng cầm tù và phổ năng lượng các trạng thái giả liên kết.
- Xác định vai trò quan trọng của xung lượng ngang, khối lượng hiệu dụng và hình dạng bờ thế trong việc điều khiển các trạng thái giả liên kết.
- Đề xuất các giải pháp thiết kế Quantum Dot graphene tối ưu nhằm nâng cao hiệu suất cầm tù electron phục vụ công nghệ nano.
- Khuyến khích tiếp tục nghiên cứu mở rộng về các hệ phức tạp và ứng dụng thực tế trong lĩnh vực vật liệu và linh kiện nano graphene.
Triển khai các mô hình tính toán nâng cao, thực hiện thí nghiệm xác nhận các dự đoán lý thuyết, và phát triển các linh kiện graphene ứng dụng trong công nghệ nano hiện đại.