CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CÁC FTA THẾ HỆ MỚI 1. Khái quát về bảo hộ quyền SHCN 1. Khái niệm bảo hộ quyền SHCN Khác với quyền tác giả, việc tạo ra các đối tượng của quyền SHCN liên quan mật thiết đến giá trị kinh tế của các đối tượng của quyền SHCN. Hệ thống pháp luật về quyền SHCN không ngừng được hoàn thiện nhằm mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ của quyền SHCN cũng như các tiêu chuẩn bảo hộ đối với các đối tượng này.
Theo nghĩa khách quan: quyền SHCN là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tạo ra, sử dụng, định đoạt các đối tượng SHCN cũng như bảo vệ quyền SHCN. Theo nghĩa chủ quan, quyền SHCN là quyền nhân thân, quyền tài sản của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng SHCN. Theo nghĩa là quan hệ pháp luật: quyền SHCN là quan hệ xã hội được xác lập giữa tác giả với chủ SHCN và giữa tác giả, chủ sở hữu quyền SHCN với các chủ thể khác được các quy phạm pháp luật SHTT điều chỉnh. Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ quyền SHCN được ký kết ngày 20/3/1883 và được sửa đổi vào năm 1967 (“Công ước Paris”), các đối tượng SHCN được bảo hộ là: sáng chế, mẫu hữu ích; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa; nhãn hiệu dịch vụ; tên thương mại; chỉ dẫn nguồn gốc hàng hóa; tên gọi xuất xứ hàng hóa; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Hiện nay, các đối tượng SHCN (theo công ước quốc tế và thực tiễn luật các nước) bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích (hoặc mẫu hữu ích); kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa; tên thương mại; chỉ dẫn địa lý; thiết kế bố trí mạch tích hợp; thông tin bí mật (bí mật kinh doanh); quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Sau hơn một thế kỷ cho đến nay danh sách các đối tượng SHCN nói trên đã được bổ sung thêm một số đối tượng mới, đó là: - Bí mật kinh doanh (bí mật thương mại, thông tin không bộc lộ…); - Thiết kế bố trí mạch tích hợp; - Giống cây trồng mới (thành tựu chọn giống). Khoản 4 Điều 4 LSHTT 2019 quy định: “Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.” Như vậy có thể hiểu quyền SHCN (industrial property rights) là quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với sáng chế về kỹ thuật sản xuất hay sản phẩm, nhãn hiệu hàng 13 hóa và bản quyền. Nó cho phép doanh nghiệp được hưởng quyền hợp pháp về những thứ này, chống lại các hành vi trộm cắp và sao chép bất hợp pháp.
1 Quyền SHCN là quyền hợp pháp của cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng SHCN. Quyền SHCN phát sinh khi đối tượng sở hữu công nghiệp đáp ứng đủ các tiêu chuẩn bảo hộ hoặc khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ. Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được hiểu theo nghĩa thông thường là “che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất”. Việc bảo hộ luôn được gắn với sự quản lý của nhà nước thông qua các giải pháp để bảo vệ, giúp đỡ, hỗ trợ bằng chính sách, pháp luật mà mỗi quốc gia dành cho công dân hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động, cư trú ở nước đó.
Để tài sản trí tuệ cần được công nhận bởi nhà nước và xã hội trước khi chủ sở hữu có được được quyền bảo vệ đối với tài sản vô hình của mình. Thông qua thủ tục xác lập quyền SHCN, nhà nước và xã hội sẽ thừa nhận tài sản vô hình của một người. Sau đó, chủ sở hữu sẽ được thừa nhận là có quyền SHCN và có thể sử dụng các cơ chế để xử lý các hành vi vi phạm quyền SHCN. Như vậy, để bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ, trước tiên cần xác lập về mặt pháp lý các quyền sở hữu trí tuệ đó: cơ quan có thẩm quyền công nhận quyền SHCN; cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền SHCN khi quyền đó bị xâm phạm.
Việc xác lập và bảo vệ quyền SHCN với nội dung và cách thức như vậy chính là bảo hộ quyền SHCN. Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm bảo hộ quyền SHCN. Có quan điểm cho rằng bảo hộ quyền SHCN là Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật xác lập quyền của các chủ thể (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) đối với đối tượng SHCN tương ứng và bảo vệ quyền đó, chống lại bất kỳ sự vi phạm nào của bên thứ ba. Có quan điểm lại cho rằng, bảo hộ quyền SHCN bao gồm các quy định pháp luật để chủ thể sở hữu thực hiện các quyền được xác định trong nội dung quyền của chủ sở hữu.
Mỗi quốc gia sẽ quy định về mức độ bảo hộ quyền SHCN phụ thuộc vào điều kiện kinh tế- xã hội, khoa học – công nghệ và chính sách của mỗi quốc gia. Phần lớn các quốc gia phát triển có xu hướng bảo hộ mạnh mẽ quyền SHCN. Bởi việc bảo hộ mạnh mẽ quyền SHCN sẽ bù đắp chi phí, nỗ lực sáng tạo và khuyến khích các chủ thể tạo ra nhiều sản phẩm có hàm lượng chất xám cao cho xã hội. Bên cạnh đó, mức độ bảo hộ cao sẽ làm cho các nước phát triển trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài.
Trong khi đó, các nước đang phát triển lại có xu hướng không mong muốn bảo hộ cao đối với quyền SHCN. Điều này xuất phát từ hoàn cảnh nội tại các nước này không có nhiều điều kiện cho việc phát triển các tài sản trí tuệ, họ cần thiết phải tiếp 1 Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học kinh tế Quốc dân 14 cận với công nghệ và tri thức tiên tiến để phát triển công nghiệp, hiện đại hóa và tăng cường cạnh tranh. Bên cạnh đó, pháp luật cũng xác định các trường hợp ngoại lệ trong bảo hộ quyền SHCN: (i) Vì lợi ích công cộng: luật pháp nhiều nước cho phép Chính phủ khai thác tài sản trí tuệ không cần có sự đồng ý chủa chủ sở hữu hoặc cho phép bên thứ ba đại diện cho Chính phủ trong một số trường hợp nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng, lợi ích công cộng và sức khỏe cộng đồng; (ii) khi chủ sở hữu không thực hiện sáng chế mà không có lý do hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định, nhà nước cũng sẽ yêu cầu chuyển giao việc thực hiện sáng chế cho bên thứ ba với các điều kiện luật định. Chúng ta có thể hiểu bảo hộ quyền SHCN là xác lập và bảo vệ quyền SHCN.
Bảo hộ quyền SHCN có thể được gọi tắt là bảo hộ SHCN là việc Nhà nước sử dụng các công cụ pháp lý và quyền lực bảo đảm cho các chủ thể sở hữu hợp pháp các tài sản trí tuệ thực thi các quyền đối với tài sản trí tuệ của họ, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm phạm tài sản trí tuệ và quyền đối với các tài sản đó do người thức ba thực hiện. Như vậy, bảo hộ quyền SHCN bao gồm ba nội dung: (i) xác lập quyền sở hữu các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ cho các chủ thể khác (hoạt động cấp văn bằng bảo hộ); (ii) Khai thác quyền SHCN; (ii) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ văn bằng (hoạt động thực thi quyền). Đặc điểm của bảo hộ quyền SHCN 1. Đối tượng của bảo hộ quyền SHCN Đối tượng của bảo hộ quyền SHCN bao gồm quyền sở hữu của cá nhân, pháp nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Người nào sử dụng các đối tượng SHCN của người khác đang trong thời gian bảo hộ mà không xin phép chủ sở hữu các đối tượng này thì bị coi là xâm phạm quyền SHCN (trừ trường hợp có quy định riêng) và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đối tượng bảo hộ quyền SHCN mang đặc trưng của đối tượng quyền sở hữu trí tuệ đó là đặc tính vô hình trong khi sở hữu tài sản vật chất lại có đặc tính hữu hình. Là sản phẩm của sáng tạo trí tuệ, mang tính vô hình nên đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ nói chung và của quyền sở hữu công nghiệp nói riêng phải được vật chất hóa hoặc được thể hiện trên các vật mang tin cụ thể. Chúng ta chỉ có thể nhận diện được tài sản trí tuệ khi nó được thể hiện thông qua vật thể hữu hình.
Như vậy có thể thấy một vật thể hữu hình có thể vừa là đối tượng của quyền sở hữu tài sản vật chất vừa là đối tượng của quyền SHTT. Đây là đặc trưng quan trọng nhất đưa tới nhứng đặc trưng khác của quyền SHTT. 15 Quyền SHCN là một quyền tài sản và đối tượng của quyền SHTT nên mang tính phi vật chất. Bởi vậy, chủ sở hữu quyền SHCN không thể trực tiếp đem lại lợi ích cho các chủ thể khác mà phải thông qua quá trình sản xuất, kinh doanh các tài sản trí tuệ này mới đem lại giá trị vật chất và tinh thần.
Bên cạnh đó, đối tượng của bảo hộ quyền SHCN còn có sự hạn chế quyền. Tính hạn chế của quyền SHCN là sự khác biệt giữa quyền sở hữu các đối tượng là tài sản vật chất hữu hình với các đối tượng là tài sản vật chất vô hình. Nó thể hiện ở nhiều khía cạnh về không gian, về thời gian và hạn chế quyền của chủ sở hữu: - Về không gian: Quyền SHCN mang tính lãnh thổ tuyệt đối. Khác với quyền sở hữu tài sản vật chất, chỉ một số loại tài sản nhất định mới phải đăng ký quyền sở hữu, quyền SHCN chỉ phát sinh trên cơ sở công nhận hoặc cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia nhất định đã công nhận hoặc cấp văn bằng đó.
Pháp luật các quốc gia đều tuân thủ nguyên tắc bảo hộ này.