Chương 1 MOT SỐ VAN DE TONG QUAN Chương nàu trình bàu tổng quan về chất bán dén graphene, cầu trúc mạng tình thể của nó, hàm sóng va phổ năng lượng của. điện tử tự do ở các trạng thái có uectơ sóng Ê nằm trong từng. lân cận các diém Dirac trong mang graphene đơn lấp rộng tô han va mang graphene dan lap có biên dạng ghế bành 1. Giới thiệu chung.1: Graphene vật liệu có cầu trúc cơ bản (2D) cho các vặt liêu carbon khác (0D, 1D và 3D) [80] Graphenelà một dạng thù hình của cacbo [I5], [IS] mà các nhà 9 khoa học đặc biệt qu: v, cũng là đối tượng chính của luận văn nà Năm 2010, giải Nobel Vật lý đã được trao cho hai khoa học gia sốc Nga, đã có công nhận dạng, định rõ đặc điểm cơ bản và chế tạo loại vật chất hai chiều này.
Nó được coi là một loại vật liệu bền nhất và xông nhất từ xưa tới nay, grapheno sẽ có thể làm thay đổi mạnh mẽ bộ mat kỹ nghệ chế tạo trong những năm tới - giống như plastic, theo lời ông Geim. Chính vì vai trò đặc biệt quan trọng như vậy nên graphene đã thu hút được rit nhiều sự quan tâm của các phòng thí nghiệm cũng như những công trình nghiên cứu lý thuyết trên các tạp chí khoa học quốc tế. Graphene là một lớp đơn nguyên tử cacbon có cấu trúc mạng lục giác, chiều đài liên kết cacbon - cacbon trong graphene là vào khoảng, 1,42A°. Graphene déng vai trd quan trong trong viée tạo thành các dạng, hình thà khác của cacbon.
Tập hợp nhiều lép graphene xép chồng lên nhau sẽ tạo thành vật liệu graphite (than chì) 3 chiều. Một tắm graphene cuộn lại sẽ tạo thành ống nano cacbon 1 chiều hay tạo thành quả cầu cacbon 0 chiều (Fulerence) (xem h 1. Cấu trúc mạng tỉnh thể của graphene. Cacbon là nguyên tử ở vị trí thứ 6 trong bảng tuần hoàn, có cấu hình vỏ nguyên tử là 1s2s°2p2, Tuy nhiên ở đây đã có sự kích thích lên trạng thái 14223'2p để lớp vỏ p đạt đến trạng thái bão hòa.
Tiếp đó có sự lai héa sp? ao thành 3 liên kết ø bền vững và một liên kết x. Trong đó liên kết z kém bền vững và vuông góc với ba liên kết kia. bộ eleetron z đều tham gia vào dẫn và có ảnh hưởng quyết định đến tính chit cia graphene [27]. Mặc dù có sự đối xứng cao trong cầu trúc, ô lục giác trong grap! không được chọn làm ö đơn vị, do các nguyên tử cacbon liễn kẻ không 10 6) Wink 1.2: Cin t mang graphene (a) và vig Brilowin tht nhit (b) [11] tương đương nhau trong hệ tọa độ Dereates, điều này được thể hiện trong.
Một cách tổng quát, có thể xem mạng bravai này gồm 2 mạng. tam giác con lồng vào nhau [H], [22]. Điều này có nghĩa là cầu trúc tỉnh thể của graphene có thể được mô tả bằng các vectơ đơn vị của các mạng. Một vài thông số mang graphene [H], [22] Hằng số mạng.
œ= Vầd=3,46AP, (L0) với ở là khoảng cách giữa 2 nguyên tử đứng gần nhau nhất, đ = 1,42A0. Đồng thời vị trí giữa các nguyên tử cacbon trong mang A vA B duge liên hệ với nhau thông qua các vectơ. 'Từ các vectơ tịnh lến cơ sở ta có thể xây dựng các vectơ mạng đảo và vùng Brillouin thứ nhất của graphene một cách dễ dàng như chỉ ra trên hình 1. Trong không gian mạng đảo tương ứng, veeto mang đảo được xác định bởi điều kien đ, = 2zổ.
v3) (4) nghĩa là các vectơ mang dio bị quay 1 góc 90° so với vectơ đơn vi mạng, thuận. Trong không gian mạng đảo, vị trí các điểm góc K và K7 của vùng Brillonin thứ nhất được xác định thông qua các vectơ (15) Vùng Brillouin thứ nhất của graphene có dạng lục giác đối xứng với trụ quay bậc 6 qua điểm T. Phổ năng lượng và hàm sóng của fermion Dirac trong graphene đơn lớp rộng võ hạn Khi xem xét một vật liệu hi việc đầu tiên cần làm là đi tìm cấu trúc điện tử của vật liệu đó. Từ cấu trúc diện tử của chúng, ta có thể biết được vật liệu đó là kim loại, bán dẫn, di ngoài ra cũng có thể tiên đoán được một số tính chất của nó và tính được một số đại lượng, như khối lượng hiệu dụng chẳng hạn.
‘Trong mang graphene, electron dịch chuyển bằng cách uiy từ nguyê tử cacbon này sang nguyên tử cacbon khác, về mặt vật lý chính là sự dịch chuyển lượng tử của electron trong mạng graphene [11]. Kí hiệu A (nguy n tử vàng) và B (nguyên tử xanh) là hai mạng tam giác lồng vào nhau đã đề cập đến ở trên, â,/(8;) hoặc 6;/(b}) la toán tử hủy (sinh) ciia electron tai nit “i” trong mạng con A hoặc là nút *j" trong mạng, 2 con B. Tính toán chỉ xét đến sự di chuyển của eleetron giữa hai ngụ tử lân cận gần nhất và ký hiệu < ¿j > là 1 cap “i” và *j". Hamiltonian của hệ eleetron trong gần đúng liên kết mạnh (tight-binding) được tìm thấy trong [15] (ở đây ta đã sử dụng hệ đơn vi với e = Ụ iy DY (ati; +H), (16) @ trong đó £ là năng lượng hopping lan cận gần nhất giữa hai nguyên tử cacbon (hai nguyên tử này nằm trên hai mạng con khác nhau) ( 2.e là liên hợp hermite của â‡ð, (H.
Trong trường hợp đang xét, không tồn tại từ trường ngoài, hình chiếu spin của điện tử không thay đổi trong quá trình chuyển động của nó, do đó spin của điện tử được xem như không đóng vai trò quan trọng, nào, ta xem điện tử như là một hạt không có spin. Chúng ta xét các trạng thái lượng tử của điện tử với veetơ sóng Ẽ có. giá trị trong vùng lân cận các điểm Dirac #£ và K” thuộc ving Brillouin thứ nhất. Trong graphene, tại những điểm Dirae điện tử hành xử như những hạt tướng đối tính có khối lượng nghỉ bằng không, do đó ta không.
thể mô tả điện tử trong graphene bằng các phương trình Schrodinger như trong cơ học lượng tử. Hamiltonian mô tả tương tác của điện tử trong, mang graphene da duige Semenoff tinh toán chỉ tiết và tìm ra vào năm. 1984 [25] được viết trong biểu diễn Heisenberg như sau. y= f arf Oe(F0) HER Ft) + He NMED}.
-ú +3) 0 ox 13 và (L9) Bằng cách đặt vp ta viét lai Hamiltonian (1.12) 10 io Hàm sóng hai thành phần WF (7) của electron có vectơ sóng nằm trong vùng lân cận các điểm Dirac thỏa mãn.13) Phương trình trên có dạng giống với phương trình Dirae cho hạt tương, đối tính, tuy nhiên trong phương trình Dirae cho các hạt tương đối tính thì vận tốc là e (vận tốc ánh sáng), còn trong phương trình này thì vận tốc là vận tốc ở mức Fermi của các electron và nó có giá trị xấp xỉ bằng, 10° m/s [27], nghia là gần bằng 1/300 vận tốc ánh sáng. Có một điều đáng chú ý là Hamiltonian tại điểm K và K" là tương tự nhau, qua một “ phép biến đổi biểu diễn, điểm này có thể biến thành điểm kia. Do đó chúng đều được mô tả bằng phương trình Dirac hai chiều tương tự nhau với sự chuyển đơn giản pụ => —p, ta thu được kết quả tương tự HỆ W* (?) = —ihuy (zý) w*'(?) = EWF” (7) (114) Như vậy, do các điện tử tự do trong mang graphene tuân theo các phương, trình Dirae nên có thể xem chúng như các fermion Dirae và thỏa mãn. tính chất của hạt này.
Trong bài toán này, trường hợp ta xét electron chuyển động tự do trong mạng graphene, không chịu tác dụng của thế tĩnh điện và từ trường, ngoài. Khi đó các phương trình Dirae sẽ có lời giải giải tích đầy đủ và chính xác. Ta hãy khảo sát trường hợp này bằng cách đi giải phương trinh Dirac đối với electron tự do (1. Do tính bắt biến của.
mạng tỉnh thế đối với phép tịnh tiến nên các hàm sóng W®*” (Z) phải là. các hàm tuần hoàn. Theo định lý Bloch các hàm này có dạng tổng quát Gi + eof 1 Viết hàm sóng WX*” (?) dướ dạng hai thành phần sping và thay vào phương trình Dirae (1.13) ta thu được (xem phụ lục 1) ( ~E xem) 5Ì _„ aw vp (hi + ike) -E a( 15 Để phương trinh (1.10) có nghiệm không tầm thường thì -E vp(ki — ike) det trí +iRa) —E ta thu được phổ năng lượng của điện tử và lỗ trồng tại lân cận các điểm.17) với li đị + kệ. ng năng lượng, fermion Dirae tỉ lệ tuyến tính với số sóng của nó (mối quan hệ này được thể hiện rõ qua hình 1.
Ở đây dấu cộng mô tả. vùng liên kết ø và dấu trừ mô tả vùng liên kết phản z [15)(hay còn goi là liên kết ø*, là dang liên kết cộng hóa trị nhưng ở mức năng lượng cao hơn).4 cho thầy cầu trúc ving nang Itong cia fermion Dirac của lớp đơn graphene có dạng hình nón kép với các đường tần sắc tuyến tính. tiếp xúc nhau tại điểm Dirac [H], [15]. Trong graphene nguyên chất, mức Fermi nim tai các điểm gặp nhau của các hình chóp đó.
Tuy nhiên, mức Hình Lậ: Đồ w diễn mối quan hệ tuyển tính giữa năng lượng của điện tử với số sóng của nó tại lân cận các điểm Dirac 16 Hinh 1.4: Minh họa cấu trúc vùng năng lượng của graphcne trong vùng Brillonin thứ nhất Fermi đó có thể thay đổi bằng cách pha tạp để cho chất liệu đó trở thành. hoặc là graphene pha tap loại n (với eloetron) hoặc là graphene pha tap loại p (với lỗ trồng) [4]. Để tìm biểu thức hàm sóng của các hạt mang điện, thay dạng tổng quát của W* (7) vào phương trình Dirae (1.13) ta tìm được các spinơ hai thành phần [H] (xem phụ lục 2) .20) ” Điều đáng chú ý ở đây đó là các hàm sóng spinơ 2 thành phần \W*” (Ƒ) có dạng giống nhau, nhưng chúng không phải là các spinơ thông, thường trong không gian vật lý 3 chiều mạng graph Mỗi hà sống là một phép biểu diễn unita 2 thành phần bất khả quy của một tap hop các phép quay trong một số các không gian tưởng tượng 3 chiều Euelide. Các hàm sóng WE'Ế' (7) cũng như các hàm sóng khác có dạng tương tự được gọi là các giả spinơ (6|.
Chúng tương tự như các giả spinơ được gọi à các nucleon N, bao gồm proton p và notron n trong vật lý hạt nhân [I7] và vật lý các hạt eơ bản [36|, [31] N '] Các thành phần hướng lên của các giả spinơ là các hàm sóng của các fermion thude mang con A và các thành phần hướng xuống là các hàm sóng của các fermion thude mang con B.