phần mở đầu giới thiệu từ thời đại Kinh Nam vương nước Xích Quỷ, đến thời đại Lạc Long Quân và Âu Cơ cho đến thời đại Hùng Vương; phần. 35 quan va Định Giang, hai vị hoàng tử khâm mệnh vua cha đem quân lên thuyền xuống hăn sông Đáy lên bờ quan sát địa giới (Tức địa giới Bồ Sao, Sắc Xuân, Lương Đài), Đông Hải quan ngay lập tức truyền cho quân sĩ và nhân dân địa phương xây dựng cung tả để hai vị ở. 'Ngài xây dựng cung sở cho đóng quân tại xứ đồi Leng, xã Bồ Sao, còn Định Công thì xây cung thấy đóng đồn tại xứ Đồi Leng bên sông xã Sắc "Xuân. Quân sỹ sẵn sàng cùng với nhân dân bản địa và nhân dân ven sông Bồi Trúc trấn trị cửa sông.
Một hôm vào lúc đêm tối, hai ông ngự giá đi tuần hai bên sông bỗng thấy có 3 bè gỗ lớn trên cắm cờ đen đi từ núi Tam Đảo ra sông Đáy. Hai ông cho quân sỹ bắt lại đưa bè vào bãi phía Đông nhưng không tài nảo đi được, trên bẻ có rắn, thuồng luồng tự lăn xuống nước. Chốc lát thấy thuyền rồng nổi lên mặt nước. Trong thuyền có tiếng người nói “Vang mệnh của long quân thuỷ quái quốc kiến lập long cung.
Do vậy nên sức tiểu thân đến Tam Đảo chọn lấy gỗ tốt đem vẻ, vả lại Thánh để dương. đài và Long quân thuỷ quốc là cùng huyết mạch (mẹ của Lạc Long Quân cũng là con gái của của Thuỷ quốc long vương), có lẽ nào lại dám bắt lại”. Hai ông mắng rằng: “Thuỷ quốc và Dương Đài (nước trên mặt đắt). tuy âm dương khác biệt, nhưng huyệt mạch tương đồng.
Nay việc cai trị của vua ta trên dương thế cũng giống như thuỷ đế. Tam Dao vốn là long vị bên tả chằu về Nghĩa Lĩnh đề cùng trời đất đã an bài đề làm quốc mach trường tôn, nên thuỷ quốc lại làm thông thuỷ đạo, phá hoại địa mạch tả long, phá hoại mùa màng, làm hại nhân dân. Thế chẳng phải phạm sao? Tuy vậy Dương thế và Thuỷ quốc tốt hơn hết là sửa sai lầm ấy mà bôi đắp địa mạch chu toàn như xưa, nếu không nghe thì sau đừng có hồi hận”. Hai ông nói xong, bè gỗ liền chìm xuống nước.
Các ông ra lệnh cho binh sĩ và nhân dân địa phương đều nghỉ không được bồi trúc gì nữa. chốc lát nước tự rút đi, bồi đắp trả lại cho đê điều, đồng ruộng, đôi gò như cũ. Nhân dân địa phương đều vui mừng. 36 Hai ông trị thuỷ mọi việc bình an, xa giá trở về triều kiến vua cha, các ông hứa sẽ trở về ở các cung của địa phương (tức trong địa phận Bồ Sao, Ngụ Lộc án ngữ bên sông giữa đất tả thanh long - đất Tam Đảo) để để phòng thuỷ.
đạo trị đầu nguồn sông Đà. Đông Hải Quan và Định Giang Quan trở về Tiền 'am Đảo (tức là hai ông bảo Sa và ở lại đây đi tuần sông, án ngữ địa giới ni vệ cả một vùng sông Đáy, Bồ Sao, Tam Đảo). Nhà vua phong cho Đông Hải Quan làm Bạch Hạc Long thin đại vương, Định Giang Quan làm An Giang Khước Địch đại vương, ngự vùng đất Thanh Long. Lại nói Đông Hải Quan ở đất này (tam vị thánh chính cung, xứ Long (đồi Bồ Sao) duge may tháng thì hoàng phi chính cung có thai, ngày 15 tháng 5 năm Giáp Tuất sinh được một người con gái xinh đẹp như hoa, đặt tên là Thục Nương, sau đổi tên là Mục.
Lại nói hai ông ở đắt này được ba năm thì vùng đất Hải Đông lại bị nước phá hoại, vua sức điều các ông đi nhiệm chức ở Hải Đông đồng trị thuỷ. Sau khi nhiệm chức được mấy năm thì không thấy có thuỷ tai nữa, hai mẹ con Hoàng phi lúc này vẫn ở Cựu Sở (cung Bồ Sao). 'Bấy giờ Hùng Hiển Vương (Lạc Long Quân) ở ngôi đã 269 năm thọ 506. tuổi, ngày 15 tháng 5 năm Bính Thìn, sinh Lạc tướng, ngày mồng 9 tháng Giêng.
cquy hãi làm thủ tỉnh Động Đình long quân dé vương. Sau thái tử Hùng Vương Lên ngôi. Ông Đông Hải Công lại về triều làm việc được một năm đến ngày 20 tháng 3 thì trăm vương đều hoá (Đông Hải, An Giang cũng là một trong các. 'vương sinh ra trong bọc có trăm trứng).
Bấy giờ quốc vương nhớ lại công ơn các tiên thánh vương, chia nước phân đất lập các bộ, Thuỷ Tỉnh, Son Tinh, Bách vương sau thành ho chia nhau ra ở núi rừng sông biễn trùng cửu một phương. Năm mươi vị trấn trị trên núi rừng đều gọi chung là Duệ Thân tôn phò. „ năm mươi vị thần trị sông biển đều gọi chung là Thuỷ Vương Linh “Thân, bảo hộ nhân dân, phò xã tắ hương hoả đến vô cùng vậy. Lại nói Hoàng phi phu nhân và Thục Nương công chúa sống ở cung Bồ.
Sao, sau khi Đông Quan hoá, quốc vương lại cho phép ở và ăn lộc tại đây (xã 37 'Bồ Sao). Hôm ấy, vào ngày 12 tháng 9 tiết thu, Hoàng phi phu nhân ngôi trên gác bỗng thấy nước sông sóng nổi cuồn cuộn, nhưng lại trong xanh dồn đến. tiền điện, gió nỗi lên mây kéo đến, mưa đổ ằm am, sam chớp rền vang, nhân dân địa phương đều kinh sợ trốn cả, bỗng thấy thuyền rồng hai chiếc song song tiến đến cung sở, thấy Đông Hải Công cùng binh lính lên bờ vào cung sở. rước Hoàng cung phi phu nhân và Hoàng phi công chúa trở về phủ quốc.
gia nhân và quan thị hầu đều theo cả. Nhân dân đều chứng kiến sự việc này, họ bang hoàng làm lễ, khi làm lễ xong bỗng thấy hai ông đưa Hoàng phi và Thục Nương xuống thuyền. Tự nhiên thấy tắt cả chìm xuống nước biến mắt, trong khoảng cách họ đi cả xuống thuỷ đạo phong vũ, lôi vân cũng tạnh hẳn, bốn bề trong xanh. Quốc vương sức cho xứ thần đến tận cung sở xem xét, nhân dân địa phương cũng tÈ tựu đầy đủ (nhân dân của Bồ Sao đều đến) chỉ thấy 10 con rắn ngũ sắc ở cửa cung.
Xứ thần và nhân dân không dám vào mà. trở về điện Phong Châu tâu xin quốc vương ngay ngày hôm đó. (ngày 12 tháng 9) sức cho quan hầu đến cung điện làm lễ tế, khi đang tiến hành tế lễ thì thấy mây gió nôi lên. Trời đất tối sằm, mưa gió âm ầm, đến lễ xong trời quang mây tạnh.
Vua thấy hiển linh như thế bẻn lập tức gia phong. mỹ tự, truyền cho dân sở tại phải phụng thờ các vào các dịp Xuân - Thu nhị kỳ sai quan đến tế, hương hoả lưu truyền mãi. Quốc vương lại gia phong. cho Đông Hải là Bạch Hạc Long Vương, Hiển Ứng đại vương.
Một đạo, phong cho Cung phi Hoàng hậu là Hoàng Bà công chúa, ba nơi của Bồ Sao phải phụng thờ. Lại nói nơi vương đã qua là trong Diễm Xuân lại được phong mỹ tự, cho trong này lập đền thờ phụng còn cung điện nơi ở trước đây của Đại vương. cho Diễm Xuân phụng th. Bay giờ quốc vương đã lên ngôi 221 năm.
Hùng Hoa Thai tử kế tự, Họ Hùng lại kế ếp trị vì trải 18 đời thánh quân được thờ ở cổ miễu (miều Đông Quan) cũng hiển ứng, hương hoả phụng thờ mãi mãi Nhân dân địa phương cắt cử trai thanh, đôi gái trình nữ trông nom hương, 38 đăng suốt ngày (cứ mỗi năm có đến chục người ở đó để trông nom hương khói ngôi đền). Lễ nhạc hội hè vui vẻ, linh ứng rõ ràng, nhân dân địa phương không. bị bệnh dịch, các thanh đồng trình nữ đã giúp đỡ dân địa phương tỏ rõ linh nghiệm cầu mưa cầu gió biến hoá vô cùng, quốc đảo dân cầu đều được linh. ứng, xuất nhập biến hoá vô cùng.
Nhìn chung, phần nội dung trên của 03 bản thần tích lưu giữ tại 03 di tích nêu trên đã kể lại một cách khá đầy đủ và chỉ tiết về cuộc đời, công trạng và hành trạng của thánh Bạch Hạc trong buổi đầu dựng nước. Từ khi thánh sinh ra với tài năng và khí phách phi thường cho đến công trạng trị thủy cứu. dân và cái chết thần kỳ. Điều chúng ta dễ nhận thấy là trong các bản kê về: cuộc đời và hành trạng của thánh Bạch Hạc đều gắn liền với các địa danh cổ.
quanh vùng đất Bồ Sao như: Cửa Ngò, Bến Đuông, núi con Voi. Có thể nói, quá trình địa phương hóa đã đưa thánh Bạch Hạc trở thành một biểu tượng, của vùng đất có bề dày về truyền thống lịch sử, văn hóa. Và làng Bồ Sao từ bao đời nay đã trở thành nơi phụng thờ chính của thánh Bạch Hạc. 40 tô theo đường quốc lộ 2 đến chợ Bồ Sao rẽ vào; hoặc có thể đi đường thuỷ, đường sắt từ Việt Trì Xuống (cách khoảng gần 3 km).
'Về không gian cảnh quan, mặt bằng tổng thể cũng như quy mô kiến trúc: Cốt lõi của tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người vào một lực lượng siêu nhiên nảo đó bảo trợ cho cuộc sóng của họ, đó là niềm tin thẻ hiện sự ngưỡng vọng vào một thế giới thần linh huyền bí so với thể giới tran tục. 'Việc xây dựng các công trình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng, đặc biệt là kiến. trúc các ngôi đình, đền, chùa cũng bị chỉ phối bởi niềm tin thiêng liêng ấy. Không nằm ngoài quy luật đó, trong kiến trúc cỗ và dân gian Việt Nam: Kinh đô của một triều đại phong kiến, chùa chiền nhà Phật, lăng mô của người đã chết, những ngôi nhà ở dân gian của người đang sống và đặc biệt là những kiến trúc của các ngôi đền thờ.
cha ông chúng ta đã biết tìm và lựa chọn vị trí, thế đất để công trình kiến trúc dựng lên vừa thoả mãn nhu cầu sử dụng của đời sống, lại vừa có giá trị thẩm mỹ nhất định tuỳ theo từng. Những di tích điển hình như: đình Tây Đẳng, đình Thuy Phiêu, đình Thanh Lũng, đình Ngọc Than, đình Xuân Dục, Hùng, Kiếp Bac. Ng cái đẹp bản thân của kiến trúc còn có cái đẹp từ vị trí, nơi công. trình kiến trúc tọa lạc có thể phóng xa tầm mắt ngắm nhìn non xanh, nước biếc, cây cỏ tốt tươi, vạn vật sinh sôi nảy nở.
Bên cạnh cảnh quan thiên nhiên sẵn có để công trình kiến trúc dựa vào góp phần tôn thêm vẻ đẹp, tô điểm cho bức tranh phong cảnh thêm phần hoa mỹ; còn có những cây cổ thụ. xum xuê, hồ nước trong xanh với bóng mái đền cổ kính đã làm cho mối tương quan giữa kiến trúc với cảnh quan và môi trường thiên nhiên càng. thêm gắn bó và có sự tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Tương truyền, đền Đuông nằm chọn vẹn trên đổi Long, sau lưng là động Ngọc, trước mặt là.