Tổng quan nghiên cứu

Theo số liệu thống kê dân số toàn quốc, cộng đồng người Mường tại Việt Nam có hơn 1.268.000 người, trong đó địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình tập trung trên 20.000 người Mường, chiếm khoảng 12,5% tổng dân số toàn huyện. Tại xã vùng cao Kỳ Phú, người Mường có 4.812 nhân khẩu, chiếm tới 90% dân số toàn xã trên tổng diện tích đất tự nhiên 444,48 ha, phân bổ rải rác tại 13 thôn bản. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, cấu trúc văn hóa gia đình truyền thống của người Mường tại đây đang chịu sự tác động sâu sắc từ quá trình giao lưu văn hóa và phát triển kinh tế thị trường.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã quy luật vận động, biến đổi của thiết chế văn hóa gia đình người Mường dưới tác động của đời sống kinh tế xã hội mới. Mục tiêu cụ thể là phân tích thực trạng các mối quan hệ ứng xử nội bộ, đánh giá sự thay đổi của hệ thống nghi lễ chu kỳ đời người và nghi lễ tín ngưỡng, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp khoa học nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người.

Phạm vi nghiên cứu tập trung chuyên sâu tại 3 bản thuần Mường tiêu biểu của xã Kỳ Phú là bản Cả, bản Ao và bản Sau trong khung thời gian từ năm 2010 đến năm 2013, có định hướng đối sánh đến năm 2015. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa mức độ chuyển dịch từ gia đình phụ quyền truyền thống sang mô hình gia đình bình đẳng tiến bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng với các chỉ số phát triển xã hội cụ thể, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý văn hóa cơ sở và phát triển cộng đồng dân tộc thiểu số tại vùng đệm sinh thái Cúc Phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation) trong nhân học văn hóa để kiến giải sự tương tác giữa văn hóa tộc người Mường và văn hóa người Kinh ở vùng đồng bằng lân cận. Nghiên cứu đồng thời kế thừa quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc gia đình và chế độ tư hữu của Friedrich Engels, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng gia đình mới làm hạt nhân vững chắc của xã hội.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cấu trúc chức năng của thiết chế gia đình, phân tích hai trục quan hệ cơ bản: trục ứng xử nội bộ giữa các thế hệ và trục thực hành nghi lễ đời sống.

Năm khái niệm công cụ cốt lõi được định hình gồm:

  • Gia đình: Thiết chế xã hội cơ bản hình thành trên quan hệ hôn nhân, huyết thống và kinh tế chung.
  • Văn hóa gia đình: Toàn bộ hệ thống chuẩn mực đạo đức, nền nếp gia phong, lối ứng xử giữa các thành viên và mối quan hệ với cộng đồng làng xóm.
  • Văn hóa tộc người: Tổng thể các yếu tố văn hóa vật chất và tinh thần mang tính đặc thù theo định nghĩa của Giáo sư Ngô Đức Thịnh, thực hiện chức năng cố kết nội bộ và phân biệt giữa các tộc người.
  • Biến đổi văn hóa gia đình: Quá trình tái cấu trúc các chức năng, vai trò của các thành viên và sự giản lược các nghi thức truyền thống trước áp lực hiện đại hóa.
  • Thiết chế phụ quyền: Mô hình tổ chức gia đình do người đàn ông, người cha làm chủ hộ, nắm toàn quyền định đoạt tài sản và đối ngoại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa chiều từ tài liệu thứ cấp gồm các văn kiện Đại hội Đảng bộ xã Kỳ Phú khóa 23, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2010-2015, kết hợp các công trình dân tộc học kinh điển của tác giả Jeanne Cuisinier, Nguyễn Từ Chỉ, Đặng Cảnh Khanh và Trần Đức Ngôn. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp thông qua các chuyến điền dã thực địa tại địa bàn xã Kỳ Phú từ tháng 10 năm 2012 đến giữa năm 2013.

Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện trên 286 hộ gia đình tại 3 bản trọng điểm gồm: bản Sau (138 hộ với 565 nhân khẩu), bản Cả (101 hộ với 357 nhân khẩu) và bản Ao (47 hộ với 207 nhân khẩu). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích kết hợp phân tầng ngẫu nhiên theo độ tuổi và vị thế xã hội. Tác giả đã thực hiện phỏng vấn sâu 30 đối tượng tiêu biểu gồm các già làng, trưởng bản, cán bộ hưu trí, hội viên phụ nữ và thế hệ trẻ tại địa phương.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp định lượng và định tính. Thống kê mô tả được sử dụng để phân tích các biến số về số con, mức thu nhập, tỷ lệ áp dụng kế hoạch hóa gia đình. Phân tích định tính thông qua quan sát tham dự và hồi cố lịch sử giúp làm rõ ý nghĩa biểu tượng của các nghi lễ mo tang ma, tục cưới xin và nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Việc lựa chọn phương pháp hỗn hợp này giúp luận văn vừa có độ tin cậy cao về số liệu thực chứng, vừa đạt được chiều sâu văn hóa trong việc giải thích hành vi tộc người.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất: Sự chuyển biến căn bản trong quan hệ ứng xử vợ chồng và quyền năng gia trưởng. Nếu trong truyền thống, người chồng nắm giữ 100% quyền định đoạt từ kinh tế đến hôn nhân của con cái thì hiện nay, có trên 90% các việc hệ trọng như xây dựng nhà cửa, mua sắm tiện nghi đắt tiền, đầu tư sản xuất đều được đưa ra bàn bạc dân chủ giữa hai vợ chồng. Quyền sở hữu tài sản gia đình đã chuyển dịch từ chế độ gia trưởng độc tôn sang đồng sở hữu hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Phát hiện thứ hai: Sự thu hẹp quy mô gia đình và chuyển biến mạnh mẽ trong tư tưởng sinh sản. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên tại địa bàn được kiểm soát ở mức 0,98%, trong đó tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng biện pháp kế hoạch hóa gia đình đạt tới 85%. Khảo sát tại 3 bản cho thấy mô hình gia đình 2 con chiếm đa số tuyệt đối: bản Cả có 93 trên 101 hộ (đạt tỷ lệ 92,1%), bản Sau có 86 trên 138 hộ (đạt 62,3%) và bản Ao có 24 trên 47 hộ (đạt 51,1%). Tư tưởng trọng nam khinh nữ bị đẩy lùi rõ rệt khi trong mẫu phỏng vấn 30 người, có tới 93,3% (28 người) khẳng định không còn chịu áp lực phải sinh bằng được con trai nối dõi tông đường.

Phát hiện thứ ba: Đứt gãy không gian cư trú và trang phục truyền thống. Khảo sát thực địa ghi nhận tỷ lệ 100% hộ dân tại 3 bản Cả, Ao, Sau đã chuyển đổi từ nhà sàn bốn mái hình mu rùa sang ở nhà xây cấp bốn kiên cố từ 3 đến 5 gian. Về trang phục, 100% phụ nữ Mường trong đời sống thường nhật đã từ bỏ trang phục váy cạp rang thêu hoa văn động vật và áo páng lót ngực để chuyển sang trang phục hiện đại của người Kinh, chỉ còn duy trì một phần trang phục cổ trong các dịp hội làng.

Phát hiện thứ tư: Tinh giản toàn diện các nghi lễ vòng đời và tín ngưỡng gia đình. Nghi thức tang ma truyền thống kéo dài từ 4 đến 12 ngày đêm với 14 lễ thức Mo phức tạp và hàng vạn câu Mo cổ đã được rút gọn xuống còn 1 đến 2 ngày, chấm dứt hoàn toàn tục giết mổ nhiều trâu bò gây tốn kém. Nghi lễ hôn nhân rút ngắn từ 4 bước kéo dài từ một năm đến một năm rưỡi với các khoản thách cưới nặng nề (60 bánh nom, 50-60 kg thịt lợn, bạc trắng) xuống thành các thủ tục văn minh, gọn nhẹ theo quy định đời sống mới.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những biến đổi trên xuất phát từ sự phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa. Toàn xã đã chuyển đổi thành công 245 ha mía nguyên liệu, 100 ha lạc, 340 ha ngô và 250 ha sắn, nâng mức thu nhập bình quân đầu người đạt 17 triệu đồng/năm. Đời sống vật chất cải thiện giúp các hộ gia đình mua sắm đầy đủ tivi, tủ lạnh, bếp gas. Hệ thống thông tin tuyên truyền với 15 cụm loa không dây phủ kín các bản và việc quán triệt Chỉ thị 27-CT/TW của Bộ Chính trị về nếp sống văn minh đã làm thay đổi nhận thức người dân. Trẻ em suy dinh dưỡng giảm mạnh từ mức 25% xuống còn 17%, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp chuyển cấp vào trung học phổ thông đạt trên 70%.

So sánh với các nghiên cứu của Nguyễn Từ Chỉ tại Mường Bi (Hòa Bình) hay Nguyễn Ngọc Thanh tại Phú Thọ, người Mường tại Kỳ Phú (Ninh Bình) có tốc độ biến đổi văn hóa vật thể nhanh hơn do nằm ở vị trí giáp ranh vùng kinh tế đồng bằng và chịu tác động mạnh từ các dòng cư dân Kinh chuyển cư từ nông trường Yên Phú.

Dữ liệu khảo sát có thể được trình bày tường minh qua bảng thống kê cơ cấu quy mô hộ gia đình tại 3 bản nghiên cứu và biểu đồ cột so sánh mức độ suy giảm của các hủ tục tang ma qua các giai đoạn 2005, 2010 và 2013. Về mặt ý nghĩa, sự biến đổi này mang tính tất yếu và tiến bộ trong việc giải phóng phụ nữ, nâng cao chất lượng sống nhưng cũng đặt ra hồi chuông cảnh báo về sự tiêu biến nhanh chóng của các giá trị văn hóa vật thể và kho tàng văn học dân gian Mo Mường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và chuẩn hóa hệ thống quy ước, hương ước thôn bản. Ủy ban nhân dân xã Kỳ Phú phối hợp với Hội đồng nhân dân xã rà soát, đưa các tiêu chí thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang vào hương ước của 13 bản, đặt mục tiêu duy trì 100% thôn bản đạt chuẩn văn hóa, kiểm soát tỷ lệ bạo lực gia đình ở mức 0% giai đoạn 2014-2020.

Thứ hai, phục dựng không gian văn hóa truyền thống thông qua thiết chế nhà sinh hoạt cộng đồng. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nho Quan cùng chính quyền địa phương triển khai đề án xây dựng 3 nhà văn hóa bản theo kiến trúc nhà sàn Mường truyền thống tại bản Cả, bản Ao và bản Sau trong giai đoạn 2014-2016. Công trình sẽ làm nơi bảo tồn hiện vật, cồng chiêng và tổ chức các sinh hoạt văn hóa dân gian.

Thứ ba, đưa di sản văn hóa Mường vào chương trình giáo dục học đường. Trường Trung học cơ sở và Tiểu học xã Kỳ Phú chủ trì tổ chức 24 chuyên đề ngoại khóa mỗi năm học về nghệ thuật Mo Mường, dân ca Mường và kỹ thuật dệt cạp váy thổ cẩm, phấn đấu nâng tỷ lệ học sinh người Mường hiểu rõ tiếng mẹ đẻ và phong tục tộc người đạt trên 80% trước năm 2018.

Thứ tư, xây dựng mô hình phát triển sinh kế gắn với du lịch sinh thái văn hóa. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình phối hợp với Ban quản lý Vườn quốc gia Cúc Phương và Công ty Nước khoáng Cúc Phương xây dựng tour du lịch trải nghiệm văn hóa bản Mường Kỳ Phú, đặt mục tiêu nâng mức thu nhập bình quân của người dân từ 17 triệu đồng lên trên 35 triệu đồng/người/năm vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất: Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý văn hóa cơ sở tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nho Quan. Tài liệu giúp tham khảo để xây dựng chính sách dân tộc, thẩm định hương ước và quy hoạch thiết chế văn hóa cơ sở vùng đồng bào thiểu số.

Nhóm thứ hai: Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Xã hội học và Nhân học. Luận văn là nguồn tư liệu thực địa phong phú cung cấp khung phương pháp luận và dữ liệu thực chứng về chuyển đổi văn hóa tộc người trong thời kỳ hội nhập.

Nhóm thứ ba: Các tổ chức phi chính phủ, ban quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và bình đẳng giới. Dữ liệu luận văn hỗ trợ thiết kế các mô hình can thiệp xã hội, nâng cao sức khỏe sinh sản và giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh tại vùng cao.

Nhóm thứ tư: Các doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch cộng đồng. Công trình cung cấp bức tranh chi tiết về phong tục ẩm thực thịt lợn nướng củ chuối, lễ mừng cơm mới, lễ nạ mụ để khai thác thành các sản phẩm du lịch trải nghiệm văn hóa độc đáo.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến người Mường tại xã Kỳ Phú không còn sinh sống trong nhà sàn truyền thống là gì? Nguyên nhân xuất phát từ việc nguồn gỗ tự nhiên khan hiếm, chi phí dựng nhà sàn bằng gỗ tốt quá cao và điều kiện môi trường tự nhiên không còn thú dữ. Toàn bộ 100% hộ dân tại 3 bản nghiên cứu đã chuyển sang làm nhà xây cấp bốn lợp ngói để thuận tiện cho sinh hoạt thường nhật và tiết kiệm kinh phí.

Mức độ bình đẳng giới trong gia đình người Mường hiện nay đã thay đổi như thế nào so với trước đây? Vai trò của người phụ nữ đã được nâng cao toàn diện khi có tới trên 90% gia đình thực hiện bàn bạc dân chủ giữa hai vợ chồng trong việc quản lý kinh tế, mua sắm tài sản lớn và định hướng học tập cho con cái. Phụ nữ không còn phải chịu cảnh phục tùng tuyệt đối như trong xã hội phụ quyền xưa.

Những nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Mường đã được tinh giản ra sao? Các thủ tục thách cưới nặng nề kéo dài từ một đến một năm rưỡi gồm hàng chục chiếc bánh nom, lợn móc hàm 50-60 kg và bạc trắng đã được xóa bỏ hoàn toàn. Đám cưới ngày nay được tổ chức tinh gọn trong 1 đến 2 ngày theo nếp sống văn minh nhưng vẫn giữ được món ăn truyền thống mang đậm bản sắc.

Nghi lễ Mo tang ma cổ truyền còn được duy trì nguyên vẹn trong đời sống hiện nay không? Nghi lễ Mo tang ma đã giảm thời lượng từ 9 đến 12 ngày đêm xuống dưới 48 giờ để đảm bảo vệ sinh môi trường và tiết kiệm chi phí cho tang chủ. Tuy nhiên, các bài văn vần Mo mang giá trị răn dạy đạo hiếu và thế giới quan tộc người vẫn được gìn giữ có chọn lọc qua lời thầy Mo.

Các nghi lễ tín ngưỡng gia đình nào vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mường tại Kỳ Phú? Các nghi lễ tiêu biểu được bảo lưu bền vững gồm: lễ mừng cơm mới vào rằm tháng 10 âm lịch để tạ ơn tổ tiên mùa màng, lễ nạ mụ với cành sỉ để cầu bình an cho trẻ nhỏ, lễ nhóm lửa khi vào nhà mới và lễ tảo mộ vào tháng 3 âm lịch hàng năm.

Kết luận

  • Luận văn đã phục dựng một cách có hệ thống bức tranh văn hóa gia đình truyền thống của người Mường tại xã Kỳ Phú trên cả hai bình diện ứng xử gia tộc và thực hành nghi lễ.
  • Phân tích và lượng hóa thành công sự chuyển dịch từ cấu trúc gia đình phụ quyền khép kín sang mô hình gia đình hạt nhân hiện đại, bình đẳng với tỷ lệ 85% cặp vợ chồng thực hiện kế hoạch hóa gia đình.
  • Làm rõ nguy cơ đứt gãy không gian văn hóa vật thể khi 100% nhà sàn cổ và trang phục dệt thổ cẩm truyền thống đã biến mất khỏi đời sống sinh hoạt thường nhật của người dân.
  • Chỉ ra các động lực kinh tế xã hội cốt lõi thúc đẩy biến đổi văn hóa, tiêu biểu là sự chuyển dịch cây trồng hàng hóa nâng cao mức thu nhập lên 17 triệu đồng/người/năm và tác động của truyền thông cơ sở.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm cân bằng giữa mục tiêu hiện đại hóa nông thôn và bảo tồn di sản văn hóa tộc người thiểu số.

Về mặt học thuật, công trình là nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên về văn hóa gia đình người Mường tại địa bàn huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, lấp đầy khoảng trống tư liệu dân tộc học tại vùng đệm rừng nguyên sinh Cúc Phương. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan quản lý và giới nghiên cứu cần khẩn trương số hóa kho tàng Mo Mường và triển khai ngay đề án dựng nhà sàn văn hóa cộng đồng nhằm trao truyền bản sắc cho các thế hệ tương lai.