Chương 1 TONG QUAN VE SUU TAP HIEN VAT GOM SU THOI LE SO LUU GIT TAI BAO TANG LICH SU QUOC GIA 1.1, Một số khái niệm có liên quan 1. Khái nệm gắm Đồ gốm - một thuật ngữ dùng để chỉ những đồ vật được làm từ đất, nước và qua nung mới thành sản phẩm. Gốm ra đời đánh dấu một mốc son trong lịch sử phát triển của loài người. Bởi vì khi con người hình thành không phải đã biết sản xuất đồ gốm.
Cùng với đất, nước, lửa và sự sáng tạo. không ngừng con người đã tạo nên những sản phẩm gốm đa dạng về chủng loại, phong phú về kiểu dáng. Gốm không chỉ là một phần tất yếu trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày mà gốm còn mang nét đặc trưng của mỗi nền văn hóa. Thông qua gốm ta có thể thấy trí tuệ của cả một dân tộc hay những biến cố thăng trầm của lịch sử.
“Đồ gốm không những là đồ dùng mà còn là những hiện vật ghỉ nhận cuộc sống, tư duy linh cảm, năng khiếu thẩm mỹ cũng như sự phát triển kỳ thuật sản xuất và sự phát triển của xã hội "[15, tr14] Gốm có tên tiếng Anh là ceramic hay potfery, còn tiếng Pháp gốm. được gọi là céramique. Khái niệm gốm được nghiên cứu và đề cập trong một số cuốn sách, tài liệu và các công trình nghiên cứu về gốm của các nhà nghiên cứu gốm trong và ngoài nước. Trong cuốn Đại rừ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên đã định nghĩa gốm là: "Các sản phẩm chế từ đắt sét nung nói chưng" [S5, tr.759] Trong cuốn Từ điển fiếng Việt của Hoàng Phê gốm được định nghĩa.
như sau: “Tên gọi chung sản phẩm chế từ đất sét và hỗn hợp đất sét nung, như đồ đất nung, sành, sứ, v.432] l3 Cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa xuất bản, Hà Nội, năm 2002, đã định nghĩa gốm là: “Những sản phẩm làm từ đất sét và những hỗn hợp của nó với các phụ gia vô cơ hoặc hữu cơ được nung qua lửa [25.158] Tran Khanh Chương trong cuốn Gám Việt Nam từ đắt mung đến sứ đã định nghĩa gốm như sau: "Đồ gồm là một từ chung nhất để gọi các loại sảm phẩm được làm bằng đắt và phải nung qua lửa mới có thể sử dụng được” [15,16] Tuy nhiên, trong một số công trình nghiên cứu, do quan niệm, hoặc có thể do “ngữ cảnh”, nhiều tác giả đã sử dụng thuật ngữ gốm như một loại hình riêng trong tương quan so sánh và khu biệt với sành và sứ. Ví dụ, trong một bài viết đăng trên Tạp chí khảo cổ (số 3, 1985) thì cho rằng “gốm là thuật ngữ được dùng đề chỉ tắt cả những sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn của sành (ở. đây chỉ loại đắt nung) ”. Còn trong một vài trường hợp khác, gốm được dùng.
để phân biệt với sứ - tất cả những gì chưa đạt tiêu chuẩn của sứ thì được gọi chung là gốm. Đôi khi, khái niệm này trở nên “trừu tượng” hơn khi người ta dùng để phân biệt nó với sành: “ ĩnh bảo thủ của sành lâu hơn gồm” (Trịnh 'Cao Tưởng). Ngoài ra còn có thuật ngữ “gốm sứ” vừa được dùng để chỉ các sản phẩm của họ nhà gốm nói chung, vừa đề chỉ riêng những sản phẩm chưa dat, hoặc gần đạt tới tiêu chuẩn của đồ sứ; va cũng có khi “gốm sứ” được hiểu. bao gồm sứ và những đồ gốm có men.
“Trong thực tế lịch sử, khi nghệ thuật chế tác sứ đạt tới những tiêu chí cao nhất về độ lửa, độ trong, bóng, độ thấu quang v. và trở nên hoàn hảo, thi người ta không muốn cho sứ vào họ nhà gồm để sứ dễ được để cao trên thị trường. Đó là tâm lí chung của cả người tiêu dùng chứ không riêng những, người sản xuất gốm. Lúc sinh thời, cố giáo sư - họa sỹ Nguyễn Văn Y đã giải 14 thích hiện tượng này và đưa ra lời tổng kết như sau: “Gốm là tiếng gọi chung.
nhất của mấy loại trên. Nhưng trên thị trường, người ta muốn tách sứ ra khỏi gốm, bởi cái dạng bóng bảy của nó khác các loại trên không ít.do nguyên nhân lịch sử: sứ ra đời rất muộn so với họ nhà gốm én định từ lâu. Nếu ở Việt Nam thường gọi gốm và sứ, ở châu Âu thường gọi Ceramique er "Pocelaine là đều do thói quen hoặc có dụng ý, hoặc vô tình. Nhưng về mặt khoa học, “sứ trước sau chỉ là một loại của gốm” [8] ‘Theo nghiên cứu của các học giả nước ngoài như Noritake Tsuda, trong cuốn Sổ /ay nghệ thuật Nhật Bản (1990, tr.220) thì gốm gồm có doki (thổ khí): đất nung; toki (đào khí): đất nung có men; sekki (thạch khí): sành và jiki (từ khi): sứ.
Tuy có rất nhiều những khái niệm, những cách diễn giải khác nhau do. cách tiếp cân, mục đích khác nhau của các nhà nghiên cứu nhưng tựu chung lại họ đều đề cập đến các yếu tố cấu thành nên gốm đó là: Đắt sét, nước, được nung qua lửa và gồm thì bao gồm gốm đắt nung, nh, sứ. Ngoài ra, theo ý kiến của cố giáo sư, họa sỹ Nguyễn Văn Y thì gốm có. ba loại chính, đó là đất nung, sành, sứ.
Đây là một ý kiến khá hợp lý vì sự phân loại của ông dựa trên cơ sở lấy chất liệu và độ nung của xương đất làm tiêu chí. Vì vậy, có thể nói đồ gốm hiểu một cách đơn giản nhất là ền gọi chung các sản phẩm được làm từ đắt sét, sau được nung qua lửa. Khái niệm sứ: Đồ sứ hay còn gọi theo tên tiếng Anh là porcelain envoy hoặc chỉna [3. Sứ là một thuật ngữ dùng để chỉ những sản phẩm được làm bằng, chat liệu được tỉnh lọc kỹ, được tráng men, có thễ thấu quang, nhiệt độ nung.
thường cao (khoảng 1280°C). Một số cuốn sách, tài liệu, công trình nghiên cứu đã có những định nghĩa về đồ sứ, cụ thể như sau: 15 Cuốn Đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên đã định nghĩa sứ. rat ngắn gọn: “Sứ là gốm trắng, không thắm nước, chế từ cao lanh" [55, tr. Trong cuỗn Từ điển tiếng Việt của Khang Việt sứ được định nghĩa như: sau: “Sit la dé gdm lam bang dat sét trắng, trắng men bóng láng "{S3].
Cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa xuất bản, Hà Nội, năm 2002, đã định nghĩa: Sứ là vật liệu gốm mịn (tinh chế) tốt và đẹp nhất trong các loại vật liệu gốm; không thấm nước và khí (độ thấm nước dưới 0,5%), thường có màu trắng, ánh sáng có thể xuyên qua được một lớp. mỏng (khả năng xuyên sáng hay thấu minh của sứ là một trong. những tiêu chuẩn để xác minh sự khác nhau giữa sứ và sành trắng. rất dễ lẫn lộn trên thị trường) [25, tr.
'Họa sỹ, nhà nghiên cứu gốm Trần Khánh Chương cho rằng: “Đỏ sứ là loại gốm nung ở nhiệt độ cao, xương đất chảy, trắng, bóng, có thể từ phía trong nhìn thầy hình vẽ, hoạ tiết ở mặt ngoài ” [L?, tr. Trong một bài viết của tác giả Nguyễn Sỹ Toản đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 2, năm 2004 đã đưa ra quan niệm của mình về đỗ sứ như sau: “Đỏ sứ la đồ xương đất có nhiều chất cao lanh làm mỏng vẫn chịu được lửa, ở nhiệt độ mung cao (thường là 130(fC). Đồ sứ có ưu điểm hơn sành trắng là khi đã chảy cứng thì xương đắt có thể nhìn được ánh sáng xuyên qua” [S1, tr. Trong cuốn Đồ sứ (Butnhicop và Ghevoan, 1965) viết về đồ sứ là: “Một thứ sành cao cấp, đạt đến trình độ hoàn hảo về kỹ thuật và mỹ thuật ”.
Như vậy, từ các khái niệm và quan niệm về đồ sứ của các nhà nghiên cứu trên đây cho thấy sứ là: Sản phẩm được làm bằng chất liệu tinh, kết iu chắc, tặt nhẫn, bóng do được tráng men, soi lên ánh sáng thấy dấu tay. 16 Trong tiến trình phát triển gốm sứ ở Việt Nam thì khi bàn về niên đại của đồ sứ cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa thống nhất, cụ thể như sau: Trong số những nhà viết lich sử mỹ thuật, có Nguyễn Phi Hoanh là người đầu tiên đưa ra ý kiến của mình về thời gian xuất hiện của đỗ sứ: “Nước Việt Nam trong bao nhiêu thời đại đã biết làm đồ gốm, nhưng chưa. khi nảo sản xuất đồ sứ mịn. Những lọ và bát đĩa đẹp trong các thời đại trước đã xác nhận là của Việt Nam cũng chỉ là loại sành tốt mà thôi” [23, tr 128] 'Theo ông, đồ sứ mới xuất hiện ở Việt Nam vào thời Nguyễn, đó là những đồ.
“kí kiểu” được triều đình Huế đặt làm tại lò Cảnh Đức Trấn bên Trung Quốc (được gọi bằng nhiều tên: đồ sứ Huế, đồ gốm men lam Huế, đồ kiểu.) Lúc sinh thời học giả Vương Hồng Sến cho rằng đồ sứ là đồ bằng sành thượng hạng do các sứ đoàn ngoại giao mang về từ các nguồn ký kiểu (nên còn gọi là đồ kiểu) ngoại giao, quả cáp [48], 'Họa sỹ, nhà nghiên cứu Trần Khánh Chương thì cho rằng: “Ngày xưa, người ta thường nhắc tới sứ Giang Tây, loại sứ mang dấu ấn Nội phủ mà triều Nguyễn đặt mua ở Trung Quốc, hoặc loại sứ mỏng có hình cô tiên của Nhật Bản. Không ai nói đến đỗ sứ của Việt Nam. Nước ta chỉ có đồ đất nung, đồ đàn, đồ sành trắng cao hơn nữa thì cũng chỉ có loại “bán sành bán sứ” [17,tr.101] Ngoài ra, cũng trong cuốn Việt Nam từ đắt nung đến sứ của tác giả Trần Khánh Chương được xuất bản năm 2001, thì ông lại viết như sau: “Nếu nhìn vào một số đặc điểm cơ bản của đồ sứ, như chất liệu, phương pháp. thành hình, phương pháp nung, phương pháp trang trí trên men sứ đã nung.
thì tôi cho rằng đồ sứ ở Việt Nam chỉ mới ra đời khoảng 20 năm trở lại đây từ ngày có nhà máy sứ Hải Dương” [15, tr39]. 7 “Theo một số công trình nghiên cứu, tư liệu đã công bồ thì đồ sứ ra đời ở Trung Quốc. Trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam, Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Từ điển bách khoa xuất bản, Hà Nội, năm 2002 viế È nguồn gốc của sứ như sau: “Sứ Trung Quốc khởi nguồn từ đời Thương, phát triển trên cơ sở kỹ thuật gốm. Ở Hà Nam, Hà Bắc, Sơn Tây, Hồ Nam, Hề Bắc, Giang Tây, Giang Tô.