Tổng quan nghiên cứu

Triều đại Lê sơ kéo dài từ năm 1428 đến năm 1527 là thời kỳ phát triển rực rỡ và cực thịnh bậc nhất trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Trải qua tiến trình hơn 100 năm xây dựng và phát triển di sản từ thời Viễn Đông Bác Cổ năm 1910, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện đang lưu giữ bộ sưu tập gốm sứ thời Lê sơ đồ sộ với tổng số 3.919 đơn vị hiện vật. Mặc dù triều đại này đã để lại một khối lượng di sản vật chất phong phú, các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo sát khảo cổ học đơn lẻ hoặc tiếp cận dưới góc độ mỹ thuật thuần túy, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện giá trị lịch sử và văn hóa học của toàn bộ sưu tập.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa, phân loại khoa học 3.919 hiện vật gốm sứ thời Lê sơ; làm sáng tỏ các giá trị lịch sử, kinh tế, xã hội và đời sống tinh thần của cư dân Đại Việt thế kỷ XV - XVI; đồng thời đánh giá thực trạng công tác lưu giữ nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian lưu trữ tại 2 cơ sở của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội đối với các hiện vật có niên đại trong hai thế kỷ XV và XVI. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để tái cơ cấu không gian trưng bày, giải quyết thực trạng chỉ có 57 hiện vật (tương đương khoảng 1,45%) được giới thiệu tới công chúng, trong khi 3.862 hiện vật (chiếm 98,55%) vẫn đang được bảo quản trong kho cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết Văn hóa học kết hợp các nguyên lý Bảo tàng học hiện đại. Khung lý thuyết văn hóa học tập trung vào cấu trúc văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, tiếp cận hiện vật như một sản phẩm sáng tạo phản ánh nhu cầu thực tiễn và tư duy thẩm mỹ của cộng đồng. Đồng thời, lý thuyết bảo tàng học định hướng việc phân tích chu trình sống của hiện vật từ khâu sưu tầm, kiểm kê, bảo quản đến trưng bày và giáo dục truyền thống.

Mô hình nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận liên ngành giữa Văn hóa học, Sử học, Khảo cổ học và Mỹ thuật học nhằm giải mã đa tầng thông điệp lịch sử ẩn chứa trong di sản gốm. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Đồ gốm: Tên gọi chung cho các sản phẩm chế tác từ hỗn hợp đất sét và nước, trải qua quá trình tạo hình và nung qua lửa để đạt độ bền cơ học.
  • Đồ sứ: Sản phẩm gốm cao cấp từ đất sét trắng cao lanh tinh chế, tráng men bóng, có khả năng thấu quang, độ thấm nước dưới 0,5% và được nung ở nhiệt độ cao khoảng 1280 độ C.
  • Sưu tập hiện vật bảo tàng: Tổng thể các hiện vật cùng loại hoặc liên kết theo chủ đề, được tập hợp có hệ thống nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục và thẩm mỹ.
  • Giá trị văn hóa: Hệ thống các chuẩn mực, ý nghĩa vật chất và biểu tượng tinh thần được cộng đồng kiến tạo và lưu truyền qua các giai đoạn lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện trên tổng thể cỡ mẫu gồm 3.919 đơn vị hiện vật gốm sứ thời Lê sơ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích để khảo tả chi tiết 57 hiện vật tiêu biểu trên hệ thống trưng bày và hàng trăm tiêu bản điển hình đại diện cho 20 loại hình hiện vật trong kho cơ sở. Lý do lựa chọn phương pháp phân loại hình thức học và thống kê định lượng nhằm xác lập cơ cấu chuẩn xác của sưu tập, đồng thời phương pháp so sánh lịch sử giúp đối sánh các đồ án hoa văn với bối cảnh xã hội thế kỷ XV - XVI mà không làm ảnh hưởng đến tình trạng vật lý của hiện vật gốc.

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hồ sơ khoa học hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; các báo cáo khai quật khảo cổ học tại trung tâm gốm Chu Đậu từ năm 1986, Làng Cậy, Hợp Lễ, Hoàng thành Thăng Long, Lam Kinh; kết quả khai quật tàu cổ Cù Lao Chàm giai đoạn 1997 - 1999 với hơn 240.000 tiêu bản gốm sứ; cùng các tư liệu thành văn như Đại Việt sử ký toàn thư và Dư địa chí. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý dữ liệu và hoàn thiện nghiên cứu được thực hiện liên tục từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả thống kê phân loại cho thấy sự đa dạng vượt trội với 20 loại hình hiện vật khác nhau, được phân định thành 4 nhóm công năng rõ rệt. Nhóm hiện vật gốm gia dụng chiếm vị trí áp đảo với 3.892 hiện vật (tương đương 99,31%), gốm kiến trúc có 18 hiện vật (chiếm 0,46%), tượng gốm trang trí có 15 hiện vật (chiếm 0,38%) và gốm thờ có 12 hiện vật (chiếm 0,31%). Trong cơ cấu loại hình, bát chiếm số lượng lớn nhất với 1.101 hiện vật (khoảng 28,09%), hộp có 1.022 hiện vật (khoảng 26,08%) và lọ có 1.021 hiện vật (khoảng 26,05%), tạo thành 3 nhóm sản phẩm chủ lực chiếm trên 80% tổng dung lượng sưu tập.

Thứ hai, nghiên cứu xác lập bản đồ nguồn gốc xuất xứ của sưu tập gắn liền với 3 trung tâm sản xuất gốm lớn nhất Đại Việt thời bấy giờ. Trung tâm gốm Chu Đậu - Mỹ Xá tại Hải Dương giữ vai trò trọng tâm với 2.919 hiện vật (chiếm tới 74,48% sưu tập). Trung tâm sản xuất gốm Thăng Long tại Hà Nội đóng góp 535 hiện vật (chiếm 13,65%), và trung tâm sản xuất gốm Bát Tràng tại Hà Nội chiếm 465 hiện vật (chiếm 11,87%). Sự phân bổ này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ tròn về tỷ trọng nguồn gốc sản xuất và bảng ma trận đối chiếu 20 loại hình với 4 nhóm mục đích sử dụng.

Thứ ba, luận văn chỉ ra bước đột phá về kỹ thuật tạo dáng và nghệ thuật trang trí men hoa lam thời Lê sơ. Dáng gốm có xu hướng vươn cao thanh thoát, tỷ lệ chiều cao lớn hơn thân ngang, chân đế cao vát mộc hoặc tô nâu. Nghệ thuật trang trí đạt đỉnh cao với các kỹ thuật vẽ bút lông dưới men, in khuôn, chạm lộng, đắp nổi và thếp vàng kim trên men. Đề tài trang trí mở rộng phong phú từ linh thú rồng, phượng đến phong cảnh sơn thủy, đời sống nông nghiệp và sinh hoạt dân gian như người câu cá, chèo thuyền, hái sen.

Thứ tư, hiện vật phản ánh sâu sắc cấu trúc phân hóa xã hội thời phong kiến. Sưu tập thể hiện ranh giới rõ rệt giữa dòng gốm ngự dụng cao cấp dành cho cung đình (vẽ rồng năm móng, khắc chữ Quan, men lam tinh xảo như đĩa hoa lam đường kính 37,5cm) và dòng gốm bình dân mộc mạc (men xanh xám đơn sắc, để mộc chân đế) phục vụ đời sống hàng ngày của người dân.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự phát triển hưng thịnh của gốm sứ thời Lê sơ bắt nguồn từ chính sách phục hồi kinh tế và mở rộng giao thương của triều đình sau khi đánh đuổi quân Minh năm 1427. Nhà nước Lê sơ vừa củng cố nông nghiệp vừa đẩy mạnh thủ công nghiệp thông qua Cục Bách Tác và các làng nghề chuyên môn hóa. Việc nhà Minh thực hiện chính sách đóng cửa biên mậu trong thế kỷ XV đã tạo thời cơ lịch sử để gốm Đại Việt, đặc biệt là gốm Chu Đậu, vươn lên chiếm lĩnh thị trường hải ngoại, minh chứng qua con tàu cổ Cù Lao Chàm dài 29,4m chia làm 19 khoang chứa hàng trăm nghìn cổ vật.

So sánh với các giai đoạn lịch sử khác, gốm thời Lê sơ đánh dấu mốc son thứ ba trong lịch sử gốm Việt Nam, tiếp nối gốm đất nung tiền sử và gốm men Lý - Trần. Nếu gốm thời Lý - Trần mang đậm dấu ấn Phật giáo với vẻ đẹp trầm mặc, dày dặn thì gốm Lê sơ chịu ảnh hưởng của Nho giáo quy chuẩn nhưng lại kết hợp nhuần nhuyễn với tinh thần phóng khoáng, hiện thực của nghệ thuật dân gian. Phát hiện này khẳng định tính độc lập và bản sắc văn hóa bản địa vững chắc của thợ thủ công Đại Việt trong tiến trình giao lưu văn hóa khu vực.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện và nâng chuẩn môi trường bảo quản kho cơ sở. Ban Giám đốc cùng Phòng Bảo quản của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cần trang bị hệ thống kiểm soát vi khí hậu tự động, duy trì nhiệt độ ổn định 20 - 24 độ C và độ ẩm 50 - 55% nhằm bảo vệ an toàn cho 3.862 hiện vật trong kho. Mục tiêu hoàn thành việc phân loại tình trạng vật lý và lắp đặt hệ thống giá đỡ chuyên dụng chống rung chấn cho 100% hiện vật gốm sứ trước quý IV năm 2028.

Thứ hai, triển khai chương trình số hóa 3D toàn diện và hiện đại hóa cơ sở dữ liệu. Trung tâm Thông tin của bảo tàng cần xây dựng kho tư liệu số, scan 3D độ phân giải cao cho toàn bộ 3.919 hiện vật thời Lê sơ. Tích hợp dữ liệu này lên hệ thống tra cứu trực tuyến và website đa ngôn ngữ, hướng đến mục tiêu nâng lượt tiếp cận tra cứu từ 3 triệu lượt/năm lên 5 triệu lượt/năm vào giai đoạn 2026 - 2030.

Thứ ba, mở rộng quy mô và đổi mới hình thức trưng bày chuyên đề. Phòng Trưng bày và Giáo dục công chúng cần tái cơ cấu chủ đề Triều Lê sơ - Mạc - Lê Trung Hưng, nâng số lượng hiện vật giới thiệu trực tiếp từ 57 hiện vật lên tối thiểu 200 hiện vật tiêu biểu (tăng khoảng 3,5 lần). Ứng dụng công nghệ tương tác thực tế ảo và tổ chức triển lãm chuyên đề Con đường gốm sứ Đại Việt trên biển trong giai đoạn 2026 - 2028.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác liên ngành và công bố các ấn phẩm khoa học. Hội đồng Khoa học bảo tàng cần phối hợp với các viện nghiên cứu và trường đại học biên soạn 2 bộ sách chuyên khảo và catalogue song ngữ Việt - Anh về sưu tập gốm Lê sơ. Định kỳ 2 năm một lần tổ chức hội thảo khoa học quốc tế nhằm trao đổi kinh nghiệm giám định và bảo tồn gốm cổ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý di sản và chuyên viên bảo tàng học: Tiếp cận hệ thống tiêu chí phân loại 3.919 hiện vật và phương pháp bảo quản gốm men cổ; ứng dụng vào việc tổ chức kho cơ sở và đổi mới không gian trưng bày tại các bảo tàng chuyên ngành trên toàn quốc.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Văn hóa học, Lịch sử và Khảo cổ học: Khai thác nguồn sử liệu vật thật xác thực về 20 loại hình gốm thế kỷ XV - XVI để phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các công trình nghiên cứu về kinh tế - xã hội thời Lê sơ.
  • Nghệ nhân, nhà thiết kế tại các làng nghề gốm truyền thống: Tiếp thu tinh hoa tạo dáng thanh thoát và nghệ thuật vẽ hoa lam độc đáo để phục dựng gốm cổ Chu Đậu, Bát Tràng, giúp gia tăng giá trị sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu từ 20% đến 30%.
  • Nhà sưu tập cổ vật và chuyên gia giám định nghệ thuật: Tham khảo các chỉ dấu nhận diện men, cốt đất và niên đại của hơn 2.900 hiện vật gốm Chu Đậu và Thăng Long để nâng cao độ chính xác trong thẩm định cổ vật thời Lê sơ.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn khảo sát tổng cộng bao nhiêu hiện vật và phân bổ lưu giữ như thế nào? Luận văn tiến hành nghiên cứu trên toàn bộ 3.919 hiện vật gốm sứ thời Lê sơ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. Hiện tại, có 57 hiện vật tiêu biểu được đưa ra trưng bày thường xuyên tại cơ sở 1 số 1 Tràng Tiền, trong khi 3.862 hiện vật còn lại được lưu giữ và bảo quản nghiêm ngặt tại hệ thống kho cơ sở của bảo tàng.

Dòng gốm nào chiếm vị trí chủ đạo và đặc trưng nhất của thời Lê sơ? Gốm men hoa lam là dòng gốm tiêu biểu nhất, đánh dấu đỉnh cao kỹ thuật với phương pháp vẽ lam dưới men, kết hợp vẽ nhiều màu và vẽ vàng kim trên men. Trong đó, các sản phẩm từ trung tâm gốm Chu Đậu - Mỹ Xá chiếm tỷ trọng cao nhất với 2.919 hiện vật (khoảng 74,48%), thể hiện trình độ nung đạt ngưỡng nhiệt trên 1200 độ C.

Bộ sưu tập hiện vật gốm Lê sơ tại bảo tàng được hình thành từ những nguồn nào? Sưu tập được tích hợp qua 4 nguồn chính: khai quật khảo cổ học trên đất liền tại Chu Đậu từ năm 1986, Làng Cậy, Lam Kinh; khai quật dưới nước tại tàu cổ Cù Lao Chàm giai đoạn 1997 - 1999 với hơn 240.000 tiêu bản; tiếp nhận hiện vật tịch thu từ các vụ buôn bán cổ vật trái phép; và kế thừa từ Bảo tàng Louis Finot từ năm 1910 cùng các hiện vật do tư nhân hiến tặng.

Hiện vật gốm sứ phản ánh đời sống xã hội thời Lê sơ ra sao? Hiện vật phản ánh rõ nét hai tầng lớp xã hội qua đặc điểm sản phẩm: tầng lớp quý tộc cung đình sử dụng đồ gốm cao cấp tráng men tinh xảo trang trí rồng phượng và chữ Quan; trong khi tầng lớp bình dân sử dụng 3.892 hiện vật gia dụng (chiếm 99,31%) gồm bát, đĩa, bình vôi với phong cách tạo hình mộc mạc, gần gũi.

Các giải pháp trọng tâm mà tác giả đề xuất để phát huy giá trị sưu tập là gì? Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp liên hoàn: kiểm soát điều kiện vi khí hậu kho lưu trữ ở nhiệt độ 20 - 24 độ C và độ ẩm 50 - 55%, số hóa 3D toàn bộ 3.919 hiện vật, mở rộng quy mô trưng bày công chúng lên 200 hiện vật và xuất bản các ấn phẩm chuyên khảo quốc tế trong giai đoạn 2026 - 2030.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại và đánh giá toàn diện 3.919 đơn vị hiện vật gốm sứ thời Lê sơ lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
  • Công trình chứng minh tính đa dạng với 20 loại hình hiện vật, trong đó gốm gia dụng chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 99,31%.
  • Xác lập vai trò trung tâm sản xuất gốm Chu Đậu - Mỹ Xá với 2.919 hiện vật (chiếm 74,48%), khẳng định thời kỳ đỉnh cao của gốm hoa lam Việt Nam.
  • Đánh giá thẳng thắn thực trạng khai thác khi mới chỉ có 1,45% hiện vật được trưng bày và 98,55% hiện vật lưu kho cơ sở.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp đồng bộ về bảo quản vi khí hậu, số hóa 3D và mở rộng trưng bày giai đoạn 2026 - 2030.

Luận văn đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, khẳng định vị thế đỉnh cao của nghệ thuật gốm sứ Đại Việt thế kỷ XV - XVI dưới lăng kính Văn hóa học và Bảo tàng học. Để biến các phát hiện này thành giá trị phục vụ xã hội, kế hoạch triển khai số hóa và nâng cấp không gian trưng bày cần được tiến hành khẩn trương trong giai đoạn 2026 - 2028. Các nhà nghiên cứu, sinh viên và công chúng quan tâm hãy liên hệ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia để tiếp cận nguồn hiện vật gốc và tra cứu toàn văn tài liệu nghiên cứu giá trị này.