Chương 1: Một số vấn đề lý luận về ở huyện Ba Bê, tỉnh Bắc Kạn Chương 2: Nghỉ lễ ma nhét truyền thống của người Tày ở huyện Ba Bé, Bắc Kạn Chương 3: Biến đổi trong nghỉ lễ ma nhét của người Tày ở Ba Bê va những vấn đề đặt ra 20 trong đó mỗi bộ phộn của chỉnh thể đều thực hiện chức năng của nó” [42, tr. Nếu triệt tiêu một yếu tố nào đó trong văn hóa thì toàn bộ hệ thống văn hóa tộc người sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và hủy hoại. Ông nhấn mạnh mối quan hệ giữa nghỉ lễ, ý nghĩa của chúng đối với những những người tham gia trong một xã hội cụ thể, và đặc biệt là sự liên quan giữa hai yêu tố này với nhau. Ông đề cao việc cần thiết phải so sánh một hiện tượng, (ví dụ như là nghỉ lễ) trong các xã hội tộc người khác nhau thay vì chỉ nhìn nhận chúng riêng rẽ [33, tr.Bên cạnh quan điểm trên, Radcliffe Brown gợi ý rằng nhìn nghỉ lễ cần cái nhìn lý giải, cơ cấu xã hội (bao gồm những, vai trò, các trách nhiệm pháp lý và các chuẩn mực đạo đức) là phạm vi cơ bản cho sự phân tích so sánh.
Bắt kỳ một hệ thống nào cũng được xác định bằng các đơn vị (yếu tố) cầu thành nó và các quan hệ giữa chúng [33, tr.18], Cùng hướng đến chức năng xã hội của nghi lễ, Émile Durkheim (1915) gợi ý rằng nghi lễ như một nguồn lực xã hội được hình thành qua việc người nguyên thủy kinh qua vai trò thành viên của mình trong xã hội và cảm thấy sự sôi nổi tập thể dé duy trì tính cố kết cộng đồng. Ông kết luận nghỉ lễ tạo ra một tuyên bố kịch tính về huyền thoại của xã hội. Trong nghỉ lễ, con người thường hành động giống như các huyền thoại của họ về nguồn gốc xã hội và tuyên thệ tính hợp pháp của trật tự được thiết lập đối với các đồ vật được coi là lĩnh thiêng [18, tr31] Về phương diện sinh hoc, Malinowski cho rằng nghỉ lễ (chẳng hạn như lễ kết hôn) cũng tạo ra những liên kết mang tính sinh học giữa con người (đàn ông và đàn bà) để từ đó có thể có quan hệ tình ái, sinh con, nuôi dây chúng trong cuộc sống. Do đó, nghỉ lễ có chức năng sinh học của nó.
Áp dụng lý thuyết chức năng vào nghiên cứu luận án này sẽ góp phần làm rõ chức năng, mục tiêu và vai trò của tín ngưỡng và văn hóa tim linh của tộc người Tày, mà nghi lễ đầy tháng ma nhét là một trong những yếu tố cấu thành và biểu hiện rõ nét nhiều chức năng trong văn hóa tộc người này. Khái quát về người Tày ở huyện Ba Bễ tỉnh Bắc Kạn 1. Khái quát về huyện Ba Bễ, tỉnh Bắc Kạn Vị trí địa lý Huyện Ba Bê nằm ở phía tây bắc tỉnh Bắc Kạn, có tổng diện tích đất tự nhiên là 68. Nằm trong tọa độ địa lý 22,35 vĩ độ Bắc và 105.
Phía bắc giáp huyện Pắc Năm và tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp huyện Bạch Thông, phía đông giáp huyện Ngân Sơn, phía tây giáp huyện Chợ Đồn và tỉnh Tuyên Quang [37, tr.9] Huyện Ba BỂ hiện nay có 16 đơn vị hành chính gồm 15 xã (Thượng Giáo, Địa Linh, Bành Trạch, Cao T1, Khang Ninh, Quảng Khê, Đồng Phúc, Hoàng Trĩ, Nam Mẫu, Cao Thượng, Yên Dương, Chu Hương, Mỹ Phương, Hà Hiệu, Phúc Lộc) và một thị tắn Chợ Rã. Huyện Ba B có vị trí địa lý thuận lợi để phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội với các huyện trong tỉnh và các tỉnh lân cận. Trên địa bàn huyện cũng được thiên nhiên phú cho nhiều danh lam, thắng. cảnh mà điền hình là hồ Ba Bẻ với tiềm năng du lich rat lớn [10].
Điễu kiện tự nhiên Ba Bê là huyện nằm ở thượng nguồn sông Năng, có nhiều đồi núi cao thấp khác nhau, độ cao trung bình so với mặt nước biên là 700m. Phía bắc có day Phja Da dinh cao nhất gần 1000m, vùng trung tâm có dãy Phja Bjoóc chạy đài theo hướng đông - nam, ngoài ra còn có nhiều dãy núi chạy theo nhiều hướng thấp dần từ bắc sang đông nam chia cất địa hình huyện thành nhiều thung lũng có địa hình phức tạp. 'Về tổng quan có thé chia thành hai vùng địa hình rõ rệt: vùng núi cao và vùng núi thấp. Vùng núi cao chủ yếu nằm ở hướng đông bắc và tây - tây bắc, vùng này rải rác có những dãy núi đá cao, độ dốc lớn, có các khu ruộng bậc thang xen kẽ.
Đắt canh tác chủ yếu là nương rẫy thích hợp cho việc trồng cây đặc sản, cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi đại gia súc. Vùng núi thấp xen 2 kẽ đồng ruộng tương đối bằng và thấp tring tap trung 6 khu trung tâm và. hướng nam, thích hợp cho trồng các loại cây lương thực như: lúa nước, ngô, đậu đỗ các loại, cây ăn quả, cây đặc sản và chăn nuôi tiểu gia súc, gia cằm. Nằm ở khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, có đủ nhiệt độ, nắng mưa được chia làm hai mùa chính: Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 22 - 28 độ C, thường xảy ra mưa to gió lốc, gây lũ lụt, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 14 - 19 độ C (lạnh nhất là tháng Giêng) thường có mưa phùn, gió rét hoặc sương muối ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của động thực vật và sinh hoạt của con người 'Ba Bề là một huyện miền núi có nguồn tài nguyên động thực vật quý hiếm nhưng do nạn chặt phá rừng làm nương rẫy và săn bắt bừa bãi nên tài nguyên rừng dân cạn kiệt, các loại động vật quý hiếm không còn nhiều.
Hiện nay chỉ còn khu vực vườn quốc gia Ba Bể là rừng nguyên sinh với. Vườn quốc gia Ba Bề ngày nay là một di sản thiên nhiên quý giá với hệ thống rừng nguyên sinh trên núi đá vôi có tới 417 loài thực vật trong đó có nhiều gỗ quý như: đỉnh, lim, sến, nghiền, lát. Ngoài các loài thực vật thân gỗ còn có hàng trăm loài hoa phong lan, địa lan, trúc dây cùng nhiều cây dược liệu quý hiếm và 299 loài động vật có xương sống. Nhiều loài động vật quý vẫn còn lưu giữ được như phượng hoàng đất, gà lôi, vọc mũi hếch.
Trong hd Ba Bé van còn 49 loại cá nước ngọt trong đó có một số loài quý hiểm như cá chép kính, cá rằm xanh, cá chiên “Thượng nguồn sông Năng nằm trên hai xã : Bing Thanh va An Thing còn có vàng sa khoáng mang lại nguồn lợi kinh tế đáng kể cho nhân dân các dân tộc huyện Ba Bề. Đây là địa bàn được thiên nhiên ưu đãi. Hồ Ba Bề rộng gần 500 ha, nơi đỗ vào của các con sông, suối. Đó là sông Năng ở phía đông, suối Tả Han ở phía bắc và suối Nam Cường ở phía tây bắc.
Độ sâu trung bình của hỗ là 25- 30m, dung tích 90 triệu m3 nước. Do sự biến đôi của địa hình caxtơ đã tạo. thành một hỗ trên núi đá vôi với các cảnh quan thiên nhiên hùng vi 2 bể lớn theo tên địa phương là Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng. Phía bắc hồ có một dao nhỏ nằm ở giữa hồ đó là đảo Pò Giả Mãi (đảo bà góa).
Dân số - dân cư Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, huyện Ba Bê có. số dân là 46.350 người, mật độ 68 người/kmỶ, là nơi hội tụ của 7 dân tộc anh em bao gồm: Tày, Nùng, Dao, Kinh, H`Mông, Hoa, Sán Chí. Trong đó dân tộc Tày chiếm tỉ lệ đông nhất (57,6%), sống tập trung thành làng bản trong các thung lũng lòng chảo, lòng máng hoặc theo hai bên bờ sông suối [10]. Người Tày ở huyện Ba BỄ Lịch sử hình thành tộc người Dân tộc Tày ở huyện Ba Bề có khoảng 26.700 người, chiếm 57,6% dân số toàn huyện.
Là cư dân đông nhất trong số các tộc người còn lại, người Tay ở Ba Bê là một phần quan trọng cấu thành nên truyền thống văn hóa đặc sắc của người Tây Bắc Kạn. Quá trình lịch sử hình thành tộc người ở đây vì vậy cũng không nằm ngoài lịch sử hình thành của người Tày ở Bắc Kạn. cáo nghiên cứu của bảo tàng tỉnh Bắc Kạn [37, tr.16] thì người Tày Bắc Kạn hiện nay gồm ba bộ phận hợp thành: Bộ phận bản địa từ thời nguyên thuỷ: Thời đại đồ đá chuyên dần sang thời đại kim khí đồ đồng thau cách đây khoảng 3 - 4 nghìn năm, các dân tộc Tày ở vùng núi Việt Bắc nằm trong khối Nguyên Tày - Thái, có địa bàn rộng lớn từ Nam Trung Quốc đến vùng núi Tây Bắc - Việt Bắc ở Việt Nam. Họ chính là chủ nhân sáng tạo ra nghề trồng lúa nước.
Cùng với quá trình biễn lùi cách đây khoảng 7 nghìn năm về trước, một bộ phận của khối Nguyên Tày - Thái ở Bắc Việt Nam đã tiến xuống vùng châu thổ sông Hồng cùng với một số tộc người khác tạo ra nền văn minh Việt cô thời Hùng Vương. Trong điều kiện mới, họ đã chuyển hoá thành người Lạc Việt, chủ nhân của nước Văn Lang. Trong khi đó các bộ lạc Tày cỗ ở miền núi Việt Bắc vẫn phát triển theo 28 chiếc thắt lưng bằng vải tự đệt, nhuộm chàm dài khoảng 2m, rộng 35cm, buộc. nút ở đẳng sau và thả hai đầu một đoạn.
Trang sức phô biến của nữ giới là vòng cổ, hoa tai, vòng tay và nhẫn bạc, khi đi hội các cô gái Tày còn đeo thêm xà tích. Người Tày thường ăn hai bữa chính là bữa trưa và bữa tối, họ thường ăn gạo tẻ, những ngày giáp hạt có thể ăn độn ngô, sắn. Gạo tẻ ngoài để nấu cơm còn được chế biến thành các loại bún, bánh đúc, bánh tẻ. Trong các kỳ tết, lễ nghỉ, gạo nếp được dùng để đồ xôi, làm bánh chưng, bánh dày, bánh dom, banh khảo, bánh gio, bỏng, cơm lam, bánh trôi, bánh rán.
Gạo nếp được chế biến thành các món ăn dùng trong các việc quan trọng như đồ xôi cúng thần linh, tổ tiên; bánh chưng buộc lạt đỏ đẻ mang đi đón dau; bánh dày loại to (péng mooe) đề đắp phai nối số cho các cụ sống lâu; cơm nếp nghệ vàng cho các bà đẻ ăn mau lại sức; bánh coóe mỏdùng cho lễ đầy tháng. “Thức ăn thì có các món chế biến từ thịt, cá như thịt xào gừng nghệ, thịt lợn hằm lá mác mật, cá ham qua tram, nam dat xào măng chua. bà con thường dùng mỡ để xào nấu chứ ít khi làm món luộc hay kho mặn.