Chương I KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI DAO Ở XÃ BA VÌ, HUYỆN BA VÌ, THÀNH PHÓ HÀ NỘI 1. Khái quát về người Dao. Nguén gốc người Dao nay trên thế giới có khoảng 3.000 người Dao, họ cư trú rải rác ở nhiều nước khác nhau như Việt Nam, Thái Lan, Lào. Song khu vực sinh sống chủ yếu của họ là ở Trung Quốc - Nơi được coi là cội nguồn của người Dao.
Tại Việt Nam, người Dao là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc nước ta với trên 20 vạn người, đứng vào hàng thứ 9 so với các dân tộc thiểu số miền Bắc và chiếm tỷ lệ 11,7% của dân số toàn miễn Bắc. Họ sống xen kẽ với người Hmông, Mường, Thái, Tày. Các thôn bản của họ trải rộng từ các vùng rừng núi biên giới Việt - Trung, Việt - Lào tới các tỉnh khác như: Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình và miễn biển Quảng Ninh (người Dao Thanh Y). Người Dao ở Việt Nam vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Qúa trình chuyển cư của họ là một quá trình lâu dài có thể bắt đầu từ thế kỷ XIII cho. đến những năm 40 của thế kỷ này. Họ di cư đến Việt Nam do nhiều yếu tố. như về tự nhiên với lịch sử hạn hán, mắt mùa liên tiếp nhiều năm, chiến tranh.
tàn phá, bị áp bức bóc lột khiến người Dao ở. nam Trung Quốc phải phân tán thành những nhóm nhỏ thiên di đến nhiều nơi để sinh sống. Đề đến được đất Việt sinh sống như hiện nay, người Dao đã phải trải qua cuộc hành trình gian khổ. Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang.
Tới đây họ di chuyển theo các hướng. Những người Dao hiện nay cư trú ở vùng Tây Ba „ đến Việt Nam. vào khoảng thế ky XIII va di theo đường bộ. Còn những người Dao ở Đông 12 Bắc và một số tỉnh trung du cũng đến Việt Nam vào khoảng thể ky XIII cho tới đầu thé ki XX, ho đi bằng đường thủy là chủ yếu.
Điều này được phản ánh rõ trong phong tục, nghỉ lễ của người Dao và được ghi lai rat ti mi trong sách cổ. Tại Hà Nội, người Dao có 3125 người trong đó 718 người cư trú ở thành thị và 2407 người cư trú ở nông thôn. Tuy nhiên chỉ có khu vực ở xã Ba Vi, huyện Ba Vì là người Dao cư trú tập trung, sống quây quần gắn bó với nhau thành từng bản. Theo gia phả, tộc phả của một số dòng họ người Dao ở Ba Vì thì người Dao có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc di cư sang Quảng Ninh, Việt Nam vào năm Giáp Dần (thế ki thứ XIII).
Theo một số người cao tuổi tại địa phương thì người Dao ở Ba Vì, Hà Nội là những nhóm người di cư từ Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Hòa Bình, Phú Thọ đến núi Ba Vì nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú thuận tiện cho cuôc sống mưu. Toàn xã Ba Vì có 7 họ Dao Quản Chẹt (Dương, Lý, Bàn, Đặng, Phùng, Lăng Triệu) va họ tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ (Bàn Vương) một nhân vật huyền thoại rất phổ biển và thiêng liêng của người Dao “Truyền thuyết về Bàn Hồ được lưu truyền và ghi chép lại chỉ tiết trong. các cuốn Bảng văn và những sách cúng của người Dao. Bàn Hỗ vốn là con long khuyển mình dài ba thước, lông đen, vằn vàng, lông mượt như nhung, từ trên trời giáng xuống trần được Bình hoàng yêu quý nuôi trong cung.
Khi đất nước lâm nguy Bình hoàng liền họp bá quan văn võ để bàn mưu tính kế đối phó giặc giã, nhưng không tìm được kế gì. Trong khi đó con long khuyển Bàn Hồ bước ra diện kiến trước mặt nhà vua quì lạy xin được đi đánh giặc. Trước khi Bàn Hồ ra đi, nhà vua có hứa nếu thành công sẽ gả công chúa cho. Bản Hồ bơi qua biển bảy ngày bảy đêm mới tới chỗ ở của chủ soái giặc.
Thấy con chó đẹp tới phủ phục trước sân rồng của mình thì cho đó là điểm may nên dem vào cung nuôi. Chờ tới hôm chủ soái say rượu, Bàn Hỗ liền cắn chết và ngoạm lấy đầu đem về báo công với Bình hoàng. Sau đó Bàn Hỗ được lấy 13 công chúa và sinh sống ở núi Cối-kê (Chiết Giang). Không bao lâu vợ chồng Bàn Hỗ sinh được 6 con trai và 6 con gái.
Bình hoàng ban sắc cho con cháu Bàn vương thành 12 họ và cấp đất, cắp rừng cho họ sinh sống. Kể từ đó con cháu Bàn Vương sinh sôi nảy nở mỗi ngày một đông hơn. Người Dao cho rằng mọi người trong tông tộc đều được sinh ra từ một ông tổ. Hiện nay, trong các gia đình người Dao vẫn còn gia pha ghỉ ông tổ và các con cháu ông ta để dùng trong cúng bái.
Mỗi tông tộc có một hệ thống tên đệm riêng dé chỉ người đàn ông trong tông tộc đó và tên đệm dùng chung cho. Người Dao Quần Chẹt cũng có chung nguồn gốc với người Dao nói chung, qua quá trình di cư và đầu tranh họ đã chọn Ba Vì làm nơi định cư để sinh sống ôn định và phát triển lâu dài. Các tên gọi của người Dao “Dao” là tên tự nhận của người Dao, nó gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc Dao. Tên “Dao” cũng được ghi trong các cuốn Øảng văn (Bình hoàng khoán điệp hay còn gọi là Quả sơn bảng văn).
Đó là cuốn sách rất phổ. biến trong người Dao. Cho nên tên Dao là tên gọi hợp lý hơn cả. Người Dao đến Việt Nam từ khá lâu nhưng tên gọi mỗi địa phương lại khác nhau.
Năm 1968, Hội nghị dân tộc Dao họp tại Hà Nội đã thống nhất tên gọi tộc danh Dao chính thức được xác định bằng văn bản. “Trước đó theo cuốn “Người Dao ở Việt - Nam ” của các tác giả Bễ Viết Đảng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến, do Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội (1971) xuất bản thì: Tên gọi của người Dao vẫn chưa được phân định. Trên báo chí, đài phát thanh, trong những luận văn, những công trình nghiên cứu của những người làm công tác dân tộc và dân tộc học, người ta vẫn gọi người Dao bằng nhiều tên gọi khác nhau như: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miễn, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng,, 14 Cốc Mùn, Sơn Đầu v. Các tên này là các tên gọi khác hoặc là phiếm xưng hoặc do các dân tộc khác gán cho họ chứ không phải tên chính thống.
Các nhánh người Dao Người Dao có nhiều nhánh khác nhau phân biệt theo từng vùng. Tên gọi các nhánh Dao dựa vào nhiều yếu tố không chỉ là phong tục, tập quán mà còn dựa trên trang phục và những đặc điểm truyền thống đẻ hình thành nên các nhánh Dao. Theo cuốn “Người Dao ở Việt Nam” của tác giả Bề Văn Đăng chủ biên thì người dao gồm 7 nhánh: Dao đỏ (Dao sừng, Dao đại ban,.); Dao q chẹt (Dao sơn đầu, Dao tam đảo,.); Dao lò gang (Dao thanh phán, Dao cốc mùn, Dao thêu,.); Dao tiền (Dao đeo tiền, Dao tiéu ban); Dao quan tring (Dao họ); Dao thanh y; Dao làn tiển (Dao tuyển, Dao tiền, Dao áo dài. Việc phân chia này dễ nhận biết nhất chính là qua trang phục của mỗi nhánh Dao.
Trang phục của người phụ nữ Dao thường là áo, yếm, chân quấn xà cạp, cùng với các đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu. Trang phục của nam giới, thường là chiếc áo ngắn, xẻ ngực, cài cúc trước ngực. Nhóm Dao đỏ quần áo đặc trưng với màu sắc nỗi bật là màu đỏ. Màu đỏ chiếm hầu hết trang phục của họ, từ áo, quần váy đến khăn, thắt lưng trên trang phục nữ thì màu đỏ chiếm màu chủ đạo.
Dao tiền là nhánh Dao duy nhất mặc váy trong 7 nhánh Dao. Những nhánh khác thường mặc quan do. Trang phục người Dao tiền in sáp ong. Khi in trên váy hiển thị rõ nhất là hoa văn đồng tiền.
Còn Dao Quần Chẹt lại có đặc điểm riêng biệt là đầu người phụ nữ cạo trọc, sơn đầu họ dùng những chiếc khăn truyền thống. Dao quần trắng - nhánh Dao này chỉ sử dụng quần trắng trong trang phục của họ. Dao lô gang còn có tên là Dao thêu “trang phục nữ có điểm nỗi bật là nẹp ngực của áo thêu rất nhiều và có nhiều mô-típ khác nhau, đặc biệt là áo và khăn đính rất nhiều chuỗi thủy tinh mau” [16, tr.32-33] 15 Mỗi một nhánh Dao đều mang những nét đặc trưng riêng, nổi bật của mình. Không có sự pha trộn hay khiến ta nhằm lẫn khi gặp họ.
Đây chính là nét văn hóa truyền thống đặc sắc góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa trong các dân tộc ở nước ta. Khái quát về người Dao ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Nội 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Huyện Ba Vì được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 1968 trên cơ sở hợp nhất các huyện Bất Bạt, Tùng Thiện và Quảng Oai của tỉnh Hà Tây, khi mới thành lập, huyện gồm 43 xã. Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của thành phố Hà Nội, trên địa bàn có một phần lớn dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất.
Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Ky Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Bắc giáp thành phó Việt Trì (tỉnh Phú Thọ), với ranh giới là sông Hồng nằm ở phía Bắc. Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ. Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc), ranh giới là sông Hồng.
Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km#, lớn nhất Thủ đô Hà Nội Xã Ba Vì là một xã miền núi thuộc huyện Ba Vì. Phía Đông giáp xã 'Vân Hòa và Yên Bái, phía Bắc giáp xã Tản Lĩnh và Ba Trại, phía Tây giáp xã Minh Quang và Khánh Thượng, phía Nam giáp xã Chu Minh và Hòa Bình. Với tổng diện tích tự nhiên là 2.538,01ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 21 ha. Về cơ cấu hành chính, hiện nay xã Ba Vì gồm có 3 thôn: Yên Sơn, Hợp Sơn và Hợp Nhất.
Địa hình của xã chia làm ba vùng chính: Vùng chân núi Ba Vì đó là vườn quốc gia Ba Vì, vùng thứ bai là vùng đổi núi bị bào mòn mạnh, có đội 16 cao trên 200m so với mực nước biển. Thứ ba là vùng đồng bằng và thung lũng. Người dân chủ yếu cư trú ở vùng thứ ba.