Chương 1 TONG QUAN VE LANG CHEM VÀ DI TICH DINH CHEM 1,1. Tổng quan làng Chèm 1. Điểu kiện tự nhiên * Vi lý Làng Chèm là làng duy nhất của xã Thụy Phương (nay là phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội) nằm ở phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, là một trong 16 xã, thị trắn của huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội trước đây. Phía Bắc của lang giáp sông Hồng và xã Hải Bồi huyện Đông Anh, có quốc lộ 23 từ Hà Nội men theo đê sông Hồng lên tới xã Thượng Cát và huyện Đan Phượng; phía Đông giáp xã Đông Ngạc; phía Nam giáp xã Cổ Nhuế và Minh Khai; phía Tây giáp xã Liên Mạc.
“Thụy Phương có tên nôm là làng Chèm. Nhiều nhà ngôn ngữ học và dân tộc học cho rằng “Chèm” phải viết là “Trèm”, vì tiếng Việt cổ là “Tlem” hay Blem, sau mới đọc thành Từ Liêm. Tên gọi Từ Liêm xuất hiện với tư cách là đơn vị hành chính cấp huyện từ đầu thế kỷ thứ VII và cuối thé ky thứ VIIL Làng Chèm xưa thuộc vùng đất gắn liền với sự hình thành vùng châu thổ đồng bằng Bắc bộ, lưu vực sông Hồng, quê hương của người Việt cỗ. Theo các nhà khoa học, cách ngày nay khoảng 3500 năm đến 4000 năm trước, Hà Nội còn là vùng phá (vũng cửa sông trước khi ra biển).
Khi biển lùi và sông bdi tích phù sa “phá” Hà Nội cạn dẫn, thể là có đắt nỗi và đầm lầy, vũng đọng dẫn đến sự xuất hiện nhiễu loài sinh vật. Khảo sit ving Chém - Vẽ, các nhà địa chất đã tìm thấy chứng tích rõ rệt của thời kỳ rừng rộm, đầm lầy của Hà Nội cổ. Đó là những dải than bùn ớp dưới lòng đất, có chỗ day tới 4m. Phủ lên lớp than bùn là lớp phủ sa sông Hồng gồm đất sét và đất pha.
Ở trên là lớp đất thị, có nhiều di vật hóa thạch như răng voi, nanh hỗ. chứng tô hệ sinh thái cổ xưa ở nơi đây. Nhiều ngôi mộ cổ đã được khảo cổ học phát hiện đưới lòng đắt Chèm. Đó là những mộ cổ, có niền đại từ thể kỹ thứ II - II đến thể kỹ thứ VI - VII.
Vật liệu chính " xây mộ là những viên gạch hình chữ nhật, trang trí hoa văn hình học ở rỉa cạnh. Những di vật trong lòng đất gồm kiếm sắt, kiếm đồng, nhẫn vàng, bạc, tiễn đồng, bình vò, cốc chén, bát, mô hình nhà, giếng nước, bếp lò, chuồng lợn bằng đắt nung. Đó là những ngôi mộ của bọn đô hộ nhà Hán sang xâm lăng nước ta hoặc của một số người Việt đã Hán hóa. Với một ý nghĩa khác, các di tích đó còn phần ảo mình chứng và khẳng định từ xa xưa, vùng đất Chèm đã là một khu vực tụ cư.
sớm và quan trọng của thủ đô Hà Nội. Điều đó cũng chứng tỏ từ xa xưa vùng đất “Chèm khá màu mỡ thuận tiện cho cư đân sinh sống, đựng làng. Do gắn invới truyền thuyết Lý Ông Trọng sống vào cuối thời Hùng Vương và thời Thục An Dương Vương, làng Chèm còn có thể đã có từ thể kỷ thir II - IIT trade Công nguyên. 'Vào thời gian này ở phía Bắc bên kia sông Hồng cách Chèm không xa là kinh đô 'Cổ Loa của An Dương Vương với hệ thống di tích văn hóa Đông Son diy đặc.
‘Vang dit Chèm còn là địa bàn hoạt động của các tướng lĩnh Quách Lãng, ‘inh Bạch Nương và Dinh Tĩnh Nương của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Vũng đất “Chèm tổn tại và phát triển qua suốt thời Bắc Thuộc, thời Lý, thời Trần, thời Lê cho đến tân ngày nay. Truyền thuyết Lý Ông Trọng qua các thời kỳ đã gián tiếp cho chúng ta biết như vậy. Ngày nay làng Chém cỗ xưa trở thành xã Thụy Phương, huyện “Từ Liêm mà đình Chẻm là một chứng tích sống mãi cùng năm tháng của làng. Làng Chèm có nhiều truyền tích gắn với sông Hồng và miễn đất cỗ Từ Liêm.
Vao thé ky thir VIII, thời Cao Biển thuộc Đường, tên đầu tiên của làng là Thụy Kiểm, sau đổi thành Thuy Uyên, rồi đổi thành Thuy Điềm. Cuối thế kỹ XVIII đầu thế kỷ XIX đổi thành làng Thuy Huong thuộc tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Sau năm 1831 làng lại đổi tên thành làng Thụy Phương thuộc tổng Phú Gia, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, sau đó thuộc huyện Hoàn Long, thuộc đại lý đặc biệt của Hà Nội (đơn vị hành chính do người Pháp đặt ra sau nim 1942). Năm 1955 xã được đổi tên thành xã Thụy Phương, quận 5 ngoại thành Hà Nội.
Năm 1961, xã Thuy Phương thuộc huyện Từ Liêm. Tháng 4 năm 2000, do sự. phát triển lớn mạnh về dân số va dia ban cư dân từ một làng cỗ đã phân chỉa thành 7 14 hội đức Thánh Chèm cư dân Công giáo cũng đều được tham dự và ngược lại khi có lễ hội Công giáo, dân làng đều có thể tham gia. Bởi vậy, cha xứ của nhà thờ đã có.
câu: "lãng Chem lương giáo tương thân”. Làng Chèm xưa có nhiều dòng họ như: Lê, Nguyễn, Hoàng, Phạm, Trữ. nhưng lớn nhất là đồng họ Lê và họ Nguyễn- hai dòng họ lâu đời nhất trong làng, gia phá ghỉ nhận đến nay là đời thứ 19, 20. Hiện tại, Làng Chèm không còn họ Lý gốc, điề này được lý giải rằng vào thời nhà Trần thay nhà Lý cả những người họ Lý tôn thất và "bình dân đều phải đổi sang họ Nguyễn.
Đời sắng kinh tế - xã hội và vẫn hóa * Kinh tế ~ Nông nghiệp ‘Tir xa xưa,đa số dân làng Chèm làm nghề nông, số ít sống bằng ngh chở đò, chải lưới và buôn bán. Dưới các triều đại phong kiến, nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển vì trình độ canh tác yếu kém, sưu cao, thuế nặng, phụ thuộc vào thiên nhiên, người nông dân lao động quanh năm không đủ ăn, phải đi cấy rẽ hoặc đi làm tá điền. Nhiễu người quá nghèo phải đi cày thuê cuốc mướn cho nhà giảu ở các làng xung quanh, mò cua, bắt ốc, đánh bắt cá, vớt củ ru ven sông Hồng. Là làng ven sông, ngày xưa làng Chèm chắc chắn cũng phát triển nghề trồng dâu nuôi tằm.
Là một làng ven đê, nơi đòng sông Hồng thường xuyên chuyển dòng nên. đoạn đê nổi làng Chem và làng Mạc bị vờ năm At Mão (1915) đã biến hàng trăm mẫu ruộng của làng Chèm vốn màu mỡ trước đây trở thành đất pha cát trắng khô cần. Từ đó liên tiếp mắt mùa, đói kém, dịch bệnh, khiến nhiễu người dân ở đây rơi vào cảnh bẳn cùng. Tuy vậy, người dân làng Chẻm vẫn lao đông cần củ, gắn bó với ruộng đồng quê nhà.
Những dải đắt pha cát bạc màu được người dân kiên trì cải tạo. bằng biện pháp san ruộng cao xuống ruộng thấp để cấy lúa, trồng rau muống. Ruộng cao trồng mâu như ngô, khoai, đậu, lạc. Trải qua bao năm tháng tần tảo, những mảnh đất pha cát bạc màu đã được những người nông dân biến thành những khu đồng rộng màu mỡ.
15 'Để đảm bảo cho việc cấy trồng từng vụ hiệu quả, người dân làng Chèm đã góp nhiều công sức cùng người dân làng Mạc hàng năm tu bổ, nâng cao mat dé. Đồng thời với việc bảo vệ đê, ngăn lũ lụt, dân làng cùng đào hệ thống mương máng để giữ nước và tháo úng khi mùa mưa đến. ~ Đánh cá Đọc ven sông từ làng Chèm đến bãi Hoa, trước đây có xóm Vạn chải gọi là "Vạn Thủy Cơ chuyên nghề đánh bắt cá và chở đò, cùng với xóm Hàng Quang, làng _Vẽ hình thành một bến sông trên chợ dưới thuyền đông vui, sằm uất. Sau năm 1954, bến sông đó được gọi là bến phà Chèm, một điểm giao thông khá quan trọng vùng phía Tây Bắc Hà Nội.
~ Các nghề phụ khác. Bau thé ky XX, ngoài nghề nông, nghề chải lưới, chở đò, dân làng còn học. thêm nghề làm mũ nan ở làng Vẽ. Nghề làm mũ nan đã giúp cho người dân lao đông cải thiện đời sống khó khăn trong khoảng thời gian dài.
Bên cạnh nghề thủ công, làng còn có một số nghề buôn bán nhỏ, làm bánh và chế biến món ăn ngon. Ngạn ngữ Hà Nội có câu "giỏ Chèm, nem Vè”, đây không chỉ là câu nói tượng trưng về món ăn độc đáo, mà còn là lời giới thiệu, ca ngợi những đặc sản địa phương nỗi tiếng chốn Hà thành từ xa xưa. Ở làng Chèm trong ngày lễ tết, món giỏ. là món không thể thiểu trong mỗi gia đình.
Hay món chè kho của làng Chèm cũng, là một đặc sản được làm khá kỳ, mâm chẻ kho thường được đem dâng cúng thần phật, gia tiên mới cho con cháu hưởng thụ lộc. Ngày nay theo xu thế đô thị hóa, xã Thuy Phương đã trở thành phường, huyện Từ Liêm đã trở thành quận. Do vậy, Thuy Phương đang có những thay đổi lớn về vấn đề cơ cầu kinh tế và cư dân. Theo đó, sẽ có nhiều ngành nghề mới được.
hình thành và phát triển như công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ buôn bán va du lịch. Và như thế cuộc sống người dân sẽ thay đổi theo chiều hướng ngày càng đầy.đủ hơn, văn mình hơn 16 * Đời sống văn hóa = Phong tụe tập quán. Do c6 lịch sử lâu đời, người làng Chèm dần dẫn cũng hình thành các phong tục. tập quán cỗ truyền nhằm đoàn kết tương trợ nhau trong lao động và khuyến khích học "ảnh, hướng thiện.
Hương ước làng, giáo dục các thế hệ phải đoàn kết, học tập và lao. động sing tạo để tạo ra những sản vật tốt dâng cúng đức Thánh và thần linh. Tục khuyến thiện là tập tục tốt đẹp và đặc biệt nhất ở làng Chèm. Tại đền Thiện, hàng năm xuân thu nhị kỳ, các nho sĩ, bắt cứ những người nào có thiện tâm và các hội viên hội “Thiện tập trung lại để lễ tiên hiển, kết hợp với nghỉ lễ Phật giáo và Đạo giáo, tiền hành bình văn và nêu cao ý thức khuyến thiện và hướng thiện cho cư dân và con em trong làng.
Ngày mng một, ngày rằm các cụ bà thường lên chùa lễ Phật cầu an. Làng Chèm cũng có tue két cha gitta ba công đồng cư đân Chèm, Hoàng Xá và Hoàng Liên. Tục kết chạ ở làng Chèm đã có từ rất xưa. Rắt tiếc hiện nay dân làng không ai nhớ thời gian xa đời, nội dung, ý nghĩa của tục kết chạ.
Người ta chỉ còn truyền miệng về việc ba làng, kết nghĩa anh em và hình dung điều đó qua hình thức ba làng cùng thống nhất trong việc tu sửa đình, tổ chức nghỉ lễ hội hè liên quan đến đức Thánh Chèm.