Chương 1 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH BẢNG ĐIỂM CÂN BẰNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Quản lý thuế (QLT) Luật QLT không nêu khái niệm về QLT, tuy nhiên tại Điều 3 Luật QLT quy định nội dung QLT gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế (NNT); kiểm tra thuế, thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế. Trong phạm vi luận văn này, QLT được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng hiệu quả các yếu tố nguồn lực đầu vào để tác động vào quy trình nội bộ cung cấp các dịch vụ đầu ra gồm khai thuế, nộp thuế; hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; giải quyết các thủ tục hành chính và kiểm tra tính tuân thủ của NNT để phát triển mô hình STM với ứng dụng bảng điểm cân bằng.2 Người nộp thuế Theo Khoản 1 Điều 2 của Luật QLT nêu khái niệm về NNT theo nguyên tắc liệt kê gồm: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nộp các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước (NSNN) (sau đây gọi chung là thuế) do cơ quan QLT quản lý thu theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân khấu trừ thuế; tổ chức, cá nhân làm thủ tục về thuế thay NNT.3 Công bằng trong QLT Theo lý thuyết tài chính công, công bằng là nói đến công bằng trong phân phối, để thực hiện đánh giá tính công bằng của hệ thống thuế yêu cầu phải đo lường hệ thống thuế tái phân phối như thế nào. Công bằng được hiểu theo hai cách đó là công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang. - Công bằng theo chiều dọc: thực hiện phân phối thu nhập theo nguyên tắc các nhóm có nhiều nguồn lực hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn so với các nhóm có thu nhập thấp hơn.
Hàm số phúc lợi xã hội theo thuyết vị lợi kêu gọi phân phối nhóm người có mức thỏa dụng thấp đến nhóm người tiêu dùng có mức thỏa dụng biên cao hơn trong xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Công bằng theo chiều ngang: thực hiện nguyên tắc nhóm người như nhau (nhưng có lẽ khác nhau về sở thích kinh tế và lối sống) nên được cư xử như nhau trong hệ thống thuế. Trong phạm vi của luận văn này, công bằng được nghiên cứu theo chiều ngang: những NNT có điều kiện như sau (loại hình kinh doanh, ngành nghề, quy mô) được điều chỉnh nghĩa vụ thuế như nhau.4 Hiệu quả Theo lý thuyết tài chính công, tính hiệu quả của thuế thể hiện gánh nặng phụ trội do thuế tạo ra phải ở mức thấp nhất. Trong phạm vi của luận văn này, hiệu quả được nghiên cứu thể hiện qua việc sử dụng nguồn lực có giới hạn để cung cấp dịch vụ công thỏa mãn nhu cầu tốt nhất cho NNT, đồng thời thực hiện chức năng kiểm tra tuân thủ có trọng tâm tạo công bằng xã hội.5 Người nộp thuế mục tiêu NNT mục tiêu theo luận văn này được hiểu là doanh nghiệp thỏa mãn các điều kiện: chấp hành tốt pháp luật về thuế và có mức đóng góp thu NSNN lớn (từ 1,5 tỷ đồng/năm trở lên).2 Quản trị trong khu vực công 1.1 Mô hình quản trị công mới (NPM) Trong mô hình NPM, có sự tương đồng giữa quản trị công và quản trị doanh nghiệp, các bộ phận hành chính chính phủ được xem như là từng bộ phận kinh doanh và hoạt động theo chiến lược cạnh tranh; công dân được xem là khách hàng.
Các cơ quan khu vực công hoạt động không chỉ theo pháp luật quy định mà còn theo quy luật tổng thể của thị trường: kinh tế và hiệu quả. Các nguyên lý NPM mang đặc tính như chủ yếu hướng về thị trường, kết quả và khách hàng. Hướng về thị trường: NPM dựa vào giả thiết cơ bản là cấu trúc thị trường, sẽ dẫn tới việc quản trị hiệu quả hơn và cung cấp dịch vụ chất lượng hơn. NPM áp dụng một số phương pháp quản lý của khu vực tư như: chi tiêu công và thuê ngoài cung cấp dịch vụ công theo phương thức đấu thầu.
Qua đó, thu hẹp lại khu vực công và tăng cường mối quan hệ giữa bên mua dịch vụ (công dân) và người cung cấp dịch vụ (tổ chức công). Như thế, tạo cơ chế cạnh tranh giữa khu vực tư và khu vực công, sẽ hạn chế sự độc quyền không có hiệu quả, cải tiến chiến lược phục vụ dịch vụ công. Theo nguyên lý này, tính hiệu quả được đặt ở trung tâm của giá trị của NPM thông qua việc xây dựng các cơ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 quan quản lý Nhà nước dạng công ty kinh doanh. Hướng về kết quả: Chức năng trung tâm của NPM là nhấn mạnh tới việc đo lường kết quả thực hiện bằng những chỉ số định lượng.
Thay đổi này đã dẫn đến quan tâm đến nâng cao tính trách nhiệm phải trả lời cho đầu ra thông qua việc đòi hỏi phải có tường trình rõ ràng về mục tiêu, mục đích và các số đo thành công. Hướng về khách hàng: xuất phát từ khái niệm “sự thỏa mãn của khách hàng”, mô hình NPM lấy sự hài lòng của khách hàng như là mục tiêu sau cùng trên cả lợi nhuận. Trong khi quản trị công truyền thống coi công dân chỉ là người nhận dịch vụ được cấp phát từ cơ quan Nhà nước, thì NPM chấp nhận triết lý điều hành kinh doanh đối với công dân như là những khách hàng. Nguyên lý NPM này bao gồm việc nhấn mạnh tới việc cải thiện chất lượng dịch vụ và xác định phương cách để tổ chức đáp ứng trách nhiệm và báo cáo cách như thế nào.
Như vậy, NPM hướng đến cả ba mặt: chiến lược phát triển theo nguyên lý thị trường, kết quả và sự thỏa mãn của công dân đối với dịch vụ công. Tóm lại, NPM không phải là một lý thuyết có hệ thống, còn bộc lộ một số những hạn chế như: đã bỏ qua sự khác biệt giữa quản trị khu vực công và khu vực tư; chỉ chú trọng tới kết quả, hiệu quả và thực tiễn của dịch vụ công, nhưng lại bỏ qua việc đạt được sứ mệnh của khu vực công và các mục đích dài hạn để đáp ứng những nhu cầu thật sự của công chúng; không phân biệt được sự khác nhau giữa công dân trong khu vực công và khách hàng trong khu vực tư. Tuy nhiên, nó vẫn còn những giá trị nhất định trong quản trị công ngày nay, đặc biệt là đối với những Quốc gia mới phát triển như Việt Nam, thì các nguyên lý của NPM vẫn có giá trị để thừa kế có chọn lọc vào quản trị công. Trong QLT ngày nay, do xuất phát từ nền quản lý hành chính tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang quản lý hành chính trong nền kinh tế thị, một số những nguyên tắc mang tính tập trung, quan liêu vẫn chưa xóa bỏ triệt để, các nguyên lý hướng về khách hàng, hướng về thị trường, hướng về kết quả trong mô hình NPM có thể được kế thừa cải thiện để QLT ngày càng tốt hơn.2 Mô hình quản trị công hiện đại (mô hình quản trị công của Barnard-Simon) Trong mô hình này, nhiệm vụ thiết yếu là duy trì một khối lượng đầu vào cần thiết để đảm bảo khả năng của tổ chức cung cấp dịch vụ.
Vai trò tổ chức của người quản lý tài chính là cân bằng sự thay đổi gắn liền với tài chính, hướng quản lý vào những vấn đề thay đổi đó và giám sát sự thực hiện tài chính của tất cả các bên có liên quan. Mô hình quản trị của Barnard-Simon được TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 thực hiện với sự tương tác giữa khu vực công, các tổ chức bên ngoài và công dân với những đặc trưng sau đây: - Về nội dung quản lý: chú trọng phát triển mạng lưới liên kết bên ngoài để đạt kết quả, thực hiện mục tiêu quản lý trong mối liên kết với các tổ chức, thể hiện mối quan hệ tổ chức từ nhiều phía. - Về kế toán: kế toán tính toán cho quyền và nghĩa vụ của các bên đối với những thỏa thuận hợp đồng. - Về kiểm toán: kiểm tra tập trung vào đầu ra, kết quả, kinh tế, hiệu quả và tính hợp lý.
Tóm lại, mô hình quản trị công hiện đại, các đơn vị công thực hiện nhiệm vụ của mình trong một liên minh tổ chức lớn hơn. Kết quả là, cơ quan công quyền không chỉ phải giỏi về quản lý hệ thống bên trong tổ chức mình, quản lý tài chính, quản lý nguồn nhân lực, công nghệ thông tin mà còn phải quản lý các nhóm có lợi ích liên quan bên ngoài để đạt kết quả chính sách mong đợi và chất lượng cao của dịch vụ công. Mô hình này được xem là nền tảng lý thuyết để hướng đến nâng cao chất lượng dịch vụ công thông qua việc thuê các đơn vị bên ngoài thực hiện trong điều kiện nguồn lực cơ quan thuế có hạn.3 Mô hình quản trị công vượt trội (Quality execellence models) Mô hình quản trị công vượt trội phát triển đầu tiên trong khu vực tư và đã chuyển dịch sang khu vực công. Theo mô hình này, việc đánh giá chất lượng quản trị công có thể được tự đánh giá hoặc thuê đơn vị bên ngoài đánh giá.
Để chuyển từ dịch vụ công chất lượng cao đến quản trị công vượt trội cần phải có bằng chứng rằng công dân thỏa mãn và chấp nhận chất lượng dịch vụ công mà họ nhận được từ các đơn vị công. Từ khía cạnh sâu rộng hơn này, một đơn vị thực hiện mô hình quản trị công vượt trội thì không đơn giản chỉ cung cấp dịch vụ chất lượng cao mà còn phải hoàn thành nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm xã hội đối với công dân. Quản trị công chất lượng cao không chỉ có thể gia tăng thỏa mãn khách hàng với dịch vụ công mà còn xây dựng sự trung thực trong quản trị công thông qua quá trình minh bạch và trách nhiệm giải trình, đối thoại dân chủ. Hệ thống đánh giá chất lượng theo tiêu chuẩn ISO được xem như là công cụ của mô hình quản trị công vượt trội.
Trong phương pháp đo chất lượng, nếu như chỉ tin cậy vào chỉ số chất lượng đơn lẻ thì sẽ dẫn đến rủi ro cho quản lý, do đó cần đo lường hỗn hợp tốt hơn là đo lường vào chỉ số duy nhất.