Tổng quan nghiên cứu

Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ (KHCN) là động lực then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của mỗi quốc gia trong nền kinh tế tri thức. Tại Việt Nam vào năm 2000, số lượng cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên đạt khoảng 1,335 triệu người, tương ứng tỷ lệ khiêm tốn từ 16 đến 17 cán bộ trên 1.000 dân (chỉ số HDI đạt 0,664, xếp thứ 110/174 quốc gia theo báo cáo của UNDP). Trong khi đó, để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển kinh tế cất cánh, Hàn Quốc đã tích lũy tới 53 cán bộ khoa học trên 1.000 dân. Là trung tâm công nghiệp, dịch vụ và thương mại lớn nhất cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu đội ngũ trí thức đông đảo với 253.221 cán bộ có trình độ từ cao đẳng trở lên (chiếm 4,89% dân số thành phố, đạt bình quân 49 cán bộ/1.000 dân), tuy nhiên quy mô và chất lượng này vẫn chưa đáp ứng kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị Kinh doanh của tác giả Huỳnh Thiện Nhi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Lê Thanh Hà tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2002), tập trung giải quyết vấn đề bất cập giữa cung và cầu nhân lực KHCN trình độ cao. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc đánh giá toàn diện thực trạng số lượng, chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ KHCN, phân tích hệ thống đào tạo, từ đó dự báo nhu cầu nhân lực đến năm 2010 (với mục tiêu toàn thành phố cần bổ sung khoảng 406.000 cán bộ KHCN) và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong giai đoạn 1995 - 2001, định hướng chiến lược đến năm 2010. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp cơ sở luận cứ xác đáng nhằm tái cấu trúc cơ cấu đào tạo, nâng tỷ lệ ứng dụng đề tài nghiên cứu từ mức 30% - 40% lên chuẩn mực cao hơn và giảm tải áp lực tỷ lệ sinh viên trên giảng viên (vốn đang ở mức báo động 1:30 tại các trường đại học thành phố).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Lý thuyết Vốn nhân lực (Human Capital Theory) của Theodore Schultz và Gary Becker, khẳng định việc đầu tư vào giáo dục, đào tạo và y tế tạo ra tri thức, kỹ năng tích lũy trong con người, đóng vai trò như một nguồn vốn sản xuất đem lại tỷ suất sinh lợi kinh tế vượt trội. Đồng thời, tác giả vận dụng Lý thuyết Tăng trưởng nội sinh (Endogenous Growth Theory) của Paul Romer và Robert Lucas, nhấn mạnh rằng sự tiến bộ kỹ thuật, hoạt động nghiên cứu - triển khai (R&D) và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực nội sinh cốt lõi quyết định sự gia tăng sản lượng dài hạn.

Bên cạnh đó, mô hình cơ cấu nhân lực kỹ thuật theo các giai đoạn công nghiệp hóa (kinh nghiệm từ Cộng hòa Dân chủ Đức với tỷ lệ chuẩn hóa giữa Đại học/Cao đẳng - Trung học chuyên nghiệp - Công nhân kỹ thuật là 1:4:16 ở giai đoạn đầu CNH) được sử dụng làm chuẩn đối sánh để đánh giá mức độ cân đối của hệ thống đào tạo nghề nghiệp. Ba khái niệm trung tâm được vận hành xuyên suốt luận văn gồm:

  1. Nguồn nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao: Lực lượng lao động có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia sáng tạo, phổ biến và ứng dụng tri thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
  2. Cơ cấu đào tạo kỹ thuật: Tỷ lệ phân bổ giữa các bậc học (Đại học - Trung cấp chuyên nghiệp - Công nhân kỹ thuật) và cơ cấu ngành nghề nhằm đáp ứng yêu cầu phân công lao động xã hội.
  3. Năng lực công nghệ nội sinh: Khả năng tiếp thu, làm chủ, thích ứng, cải tiến và chuyển giao các công nghệ tiên tiến từ bên ngoài vào môi trường sản xuất thực tế tại địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng và điều tra xã hội học nhằm bảo đảm tính khách quan và chiều sâu thực tiễn.

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê TP.HCM, Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường TP.HCM, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Đại học Quốc gia TP.HCM giai đoạn 1995 - 2001. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua các cuộc điều tra xã hội học chuyên sâu.
  • Cỡ mẫu và chọn mẫu: Khảo sát định lượng chọn mẫu có chủ đích tại 158 đơn vị hoạt động KHCN trên địa bàn TP.HCM với tổng quy mô 14.408 cán bộ; điều tra khảo sát ý kiến đánh giá của 401 nhà khoa học (bao gồm 188 giảng viên đại học và 213 cán bộ nghiên cứu kỹ thuật); khảo sát thái độ học tập và đạo đức nghề nghiệp trên mẫu 192 sinh viên.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê phân tích tương quan, đối chuẩn quốc tế (Benchmarking) với các nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, kết hợp phương pháp dự báo xu hướng nhu cầu nhân lực (Trend Forecasting) theo các kịch bản phát triển kinh tế 2002 - 2010. Timeline nghiên cứu bao quát số liệu lịch sử từ năm 1995 đến năm 2001 và xây dựng mô hình dự báo đến năm 2010. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bao quát cả khía cạnh vĩ mô của hệ thống quản lý giáo dục lẫn vi mô về tâm lý, năng lực của từng nhóm chủ thể KHCN.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu đào tạo tại TP.HCM rơi vào tình trạng "tháp ngược" và mất cân đối nghiêm trọng giữa các bậc học. Trong năm học 1997 - 1998, tỷ lệ tuyển sinh giữa Đại học - Cao đẳng / Trung học chuyên nghiệp / Công nhân kỹ thuật là 7,5 / 1 / 7,3; đến năm 2001, tỷ lệ học sinh đang theo học tương ứng là 4,5 / 1 / 3,2 (ĐH-CĐ chiếm 51,90%, THCN chiếm 11,56%, CNKT chiếm 36,52%). Tỷ lệ này hoàn toàn lệch chuẩn so với mô hình phát triển công nghiệp hóa ban đầu (1 / 4 / 16). Đồng thời, có sự chênh lệch lớn giữa đào tạo nhân lực quản lý và kỹ thuật: năm 2001, Đại học Kinh tế TP.HCM đào tạo 4.202 sinh viên, gấp 1,42 lần so với con số 2.948 sinh viên của Đại học Bách khoa TP.HCM.

Thứ hai, đội ngũ cán bộ KHCN đầu ngành bị già hóa nghiêm trọng và đối mặt nguy cơ hẫng hụt thế hệ kế cận. Khảo sát tại 158 cơ quan KHCN (tổng số 14.408 người) cho thấy tuổi bình quân của Thạc sĩ là 42 tuổi và Tiến sĩ là 52 tuổi. Trong tổng số 1.140 Tiến sĩ đang công tác tại các đơn vị này, có tới gần 500 người (chiếm 43,8%) sẽ đến tuổi nghỉ hưu trong 5 năm tiếp theo. Tỷ lệ Giáo sư và Phó Giáo sư từ 50 tuổi trở lên chiếm gần 90% (nhóm trên 60 tuổi chiếm gần 60%, nhóm 50 - 60 tuổi chiếm gần 30%), trong khi lực lượng cán bộ nghiên cứu trẻ dưới 30 tuổi có học vị sau đại học chiếm tỷ lệ không đáng kể (chỉ 11 Tiến sĩ dưới 30 tuổi trên tổng số 1.140 người).

Thứ ba, năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế và hiệu quả chuyển giao công nghệ còn ở mức thấp. Trong 35 năm (giai đoạn trước 2000), toàn bộ các nhà khoa học trong nước chỉ công bố gần 300 bài báo quốc tế thuộc các lĩnh vực y khoa, sinh học, hóa học và nông học. Con số này thua kém rất xa so với Thái Lan (5.210 bài), Malaysia (2.088 bài) và Singapore (6.932 bài). Đáng chú ý, số lượng đề tài nghiên cứu KHCN tại TP.HCM được đưa vào ứng dụng và triển khai thực tế chỉ đạt khoảng 30% - 40% trên tổng số đề tài được cấp kinh phí.

Thứ tư, áp lực quá tải giảng dạy và thiếu hụt ngân sách đầu tư cơ sở vật chất. Tỷ lệ sinh viên trên giảng viên tại các trường đại học ở TP.HCM năm học 2000 - 2001 bình quân lên tới 1:30 (cá biệt tại Đại học Kinh tế là 1:89, Đại học KHXH&NV là 1:87), cao hơn nhiều so với mức chuẩn 1:17 của các nước đang phát triển. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục chỉ đạt 2,9% GNP vào năm 2000; kinh phí đào tạo bình quân khoảng 2 triệu đồng/sinh viên/năm (tương đương 100 - 200 USD/năm), quá thấp so với mức 3.000 USD/năm tại các nước ASEAN.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng tháp đào tạo ngược xuất phát từ tâm lý xã hội sính bằng cấp, muốn "làm thầy hơn làm thợ", cùng với việc quy hoạch mạng lưới các trường dân lập phát triển ồ ạt (7 trường đại học dân lập ra đời trong 3 năm nhưng tập trung tuyển sinh khối ngành dễ mở như Quản trị kinh doanh, Ngoại ngữ, Tin học mà bỏ qua các ngành công nghệ cốt lõi). Sự suy giảm hiệu quả nghiên cứu bắt nguồn từ chính sách tiền lương và đãi ngộ bất cập: 63% ý kiến chuyên gia trong mẫu khảo sát 401 nhà khoa học cho rằng chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng khiến cán bộ phải làm thêm ngoài chuyên môn, gây lãng phí chất xám nghiêm trọng; 59% cho biết kiến thức chưa được tái tạo, cập nhật theo chuẩn thế giới.

Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện trên có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua:

  • Biểu đồ tháp cơ cấu đào tạo: Minh họa sự đối lập giữa hình tháp "phình to ở đỉnh và teo tóp ở giữa" của TP.HCM năm 2001 (tỷ lệ 4,5 / 1 / 3,2) so với mô hình tháp đáy rộng cân đối của các nước công nghiệp (1 / 4 / 16).
  • Bảng ma trận độ tuổi và trình độ: Trình bày sự phân bổ 14.408 cán bộ KHCN theo các nhóm tuổi từ dưới 25 đến trên 60 tuổi, làm nổi bật "khoảng trống thế hệ" khi 43,8% Tiến sĩ bước vào tuổi nghỉ hưu.
  • Biểu đồ cột phân bố tỷ lệ sinh viên/giảng viên: Thể hiện sự quá tải vượt chuẩn của các trường đại học trọng điểm phía Nam so với bình quân cả nước (1:16) và khu vực (1:17).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các nút thắt về nhân lực KHCN, luận văn đưa ra hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Thiết lập cơ chế điều phối và kiểm định chất lượng đào tạo: UBND TP.HCM chủ trì phối hợp cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập "Hội đồng Đại học Thành phố" và "Hội đồng nghiên cứu và thẩm định chất lượng giáo dục" trong giai đoạn 2003 - 2005. Hội đồng có nhiệm vụ xây dựng bộ tiêu chuẩn thống nhất về phương pháp giảng dạy, thẩm định chất lượng chương trình đại học và sau đại học, đồng thời hoạch định chỉ tiêu đào tạo gắn chặt với nhu cầu thực tiễn của 17 ngành kinh tế chủ lực của thành phố.

  2. Triển khai các chương trình đột phá đào tạo chuyên gia đầu ngành: Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp Đại học Quốc gia TP.HCM tổ chức thực hiện "Chương trình đào tạo 200 Tiến sĩ, 200 Thạc sĩ" cho 15 ngành trọng điểm (mỗi ngành đạt mục tiêu 20 Tiến sĩ, 50 Thạc sĩ) trong khung thời gian 5 năm, với mức ngân sách hỗ trợ đào tạo 30 tỷ đồng (bình quân 51 triệu đồng/học viên/năm). Đồng thời nhân rộng mô hình đào tạo 300 Thạc sĩ, Tiến sĩ trẻ ở nước ngoài và chương trình đào tạo 1.000 Giám đốc doanh nghiệp.

  3. Xây dựng Trung tâm thông tin dữ liệu nhân lực và hạ tầng công nghệ cao: Cục Thống kê TP.HCM chủ trì thiết lập "Trung tâm thông tin và cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực" cho vùng tứ giác kinh tế TP.HCM - Đồng Nai - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu đến năm 2005, kết nối cung - cầu lao động cho hơn 30 khu công nghiệp, khu chế xuất. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng Khu Công viên phần mềm Quang Trung và Khu Công nghệ cao TP.HCM, nâng tỷ trọng chi phí phần mềm/dịch vụ trong các dự án CNTT từ dưới 10% lên mức 40% theo chuẩn các nước công nghiệp phát triển.

  4. Tái cấu trúc cơ chế tài chính và thành lập Quỹ tín dụng sinh viên: Hội đồng Nhân dân và UBND TP.HCM bảo đảm tỷ trọng chi ngân sách thường xuyên cho giáo dục - đào tạo đạt tối thiểu 15% tổng chi ngân sách. Ủy thác qua hệ thống ngân hàng thành lập "Quỹ tín dụng sinh viên TP.HCM" nhằm hỗ trợ vay vốn ưu đãi cho người học có hộ khẩu thành phố, đồng thời ban hành chính sách khấu trừ thuế doanh nghiệp đối với các khoản chi phí tài trợ R&D và đóng góp trực tiếp cho cơ sở đào tạo đại học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (UBND TP.HCM, Sở KH&CN, Sở GD&ĐT, Sở LĐ-TB&XH): Luận văn cung cấp mô hình dự báo định lượng và cơ sở luận cứ vững chắc để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới giáo dục chuyên nghiệp, gắn kết chính sách đào tạo với chiến lược phát triển kinh tế vùng tứ giác trọng điểm phía Nam.

  2. Ban Giám hiệu và các nhà quản lý cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng: Sử dụng hệ thống chỉ số về tỷ lệ sinh viên/giảng viên, định mức giờ giảng và cơ cấu ngành nghề để tái thiết kế chương trình đào tạo, chuyển đổi từ phương pháp truyền thụ một chiều sang dạy học "giải quyết vấn đề", đồng thời chuẩn hóa tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt mức tối thiểu 30%.

  3. Ban quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Doanh nghiệp công nghệ: Nắm bắt bức tranh toàn cảnh về nguồn cung lao động kỹ thuật, từ đó chủ động xây dựng cơ chế đặt hàng nghiên cứu R&D, liên kết đào tạo theo địa chỉ và khai thác hiệu quả đội ngũ chuyên gia công nghệ từ các trường viện.

  4. Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản trị nhân lực và Quản trị kinh doanh: Kế thừa khung lý thuyết vốn nhân lực kết hợp mô hình tháp đào tạo công nghiệp, tham khảo phương pháp xử lý dữ liệu khảo sát 158 đơn vị KHCN và 401 chuyên gia để phát triển các công trình nghiên cứu sâu về kinh tế tri thức và đổi mới sáng tạo.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao cơ cấu đào tạo tại TP.HCM giai đoạn 2000 - 2001 bị đánh giá là mô hình "tháp ngược"? Vì tỷ lệ đào tạo giữa Đại học/Cao đẳng - Trung học chuyên nghiệp - Công nhân kỹ thuật năm 2001 là 4,5 / 1 / 3,2. Bậc đại học phình to chiếm 51,90%, trong khi bậc trung học kỹ thuật teo tóp chỉ 11,56%, hoàn toàn trái ngược với chuẩn hóa phát triển công nghiệp hóa ban đầu là 1 / 4 / 16 (1 kỹ sư cần 4 trung cấp và 16 công nhân kỹ thuật).

  2. Tình trạng già hóa của đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ TP.HCM diễn ra nghiêm trọng như thế nào? Theo khảo sát 14.408 cán bộ tại 158 đơn vị KHCN, độ tuổi bình quân của Tiến sĩ là 52 tuổi. Có tới 43,8% số Tiến sĩ (gần 500 người trên tổng số 1.140 người) sẽ nghỉ hưu trong 5 năm tiếp theo. Ngoài ra, số cán bộ có chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư trên 50 tuổi chiếm gần 90%.

  3. Luận văn đưa ra giải pháp tài chính mang tính đột phá nào cho đào tạo nhân lực? Tác giả đề xuất thành lập Quỹ tín dụng sinh viên TP.HCM ủy thác qua ngân hàng để cấp học bổng và cho vay học phí ưu đãi; tăng ngân sách thường xuyên cho giáo dục lên tối thiểu 15% tổng chi ngân sách; đồng thời cho phép doanh nghiệp khấu trừ thuế thu nhập đối với các khoản kinh phí tài trợ đào tạo và nghiên cứu R&D.

  4. Hiệu quả ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học tại TP.HCM trong giai đoạn nghiên cứu đạt mức nào? Theo đánh giá của Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường TP.HCM, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học được đưa vào ứng dụng và triển khai thực tế chỉ chiếm từ 30% đến 40% tổng số đề tài được cấp kinh phí, phản ánh sự lãng phí nguồn lực và khoảng cách lớn giữa nghiên cứu viện - trường với sản xuất thực tiễn.

  5. Dự báo đến năm 2010, TP.HCM cần phát triển quy mô đội ngũ cán bộ KHCN đạt mức bao nhiêu? Theo tính toán dự báo của luận văn, đến năm 2010, TP.HCM cần một lực lượng khoảng 406.000 cán bộ KHCN có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên (tăng gấp 2,5 lần so với năm 2000). Bình quân giai đoạn 2001 - 2005 cần bổ sung 14.000 người/năm và giai đoạn 2005 - 2010 cần bổ sung 21.000 người/năm.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện bức tranh nhân lực KHCN tại TP.HCM đầu thế kỷ 21, chỉ rõ nghịch lý giữa số lượng trí thức đứng đầu cả nước (49 cán bộ/1.000 dân) nhưng chất lượng, năng lực ứng dụng thực tế và công bố quốc tế còn rất khiêm tốn.
  • Nhận diện chính xác sự mất cân đối nghiêm trọng của hệ thống giáo dục qua cơ cấu tháp đào tạo ngược (4,5 / 1 / 3,2) cùng tình trạng già hóa báo động của 43,8% đội ngũ Tiến sĩ chuẩn bị nghỉ hưu.
  • Xác lập mô hình dự báo khoa học nhu cầu 406.000 nhân lực KHCN cho TP.HCM đến năm 2010, tập trung vào các ngành công nghệ cao như Công nghệ thông tin, Tự động hóa, Công nghệ sinh học và Vật liệu mới.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp liên hoàn có tính khả thi cao, nổi bật là việc thành lập Hội đồng Đại học Thành phố, Đề án 200 Tiến sĩ - 200 Thạc sĩ trọng điểm (30 tỷ đồng), Quỹ tín dụng sinh viên và Trung tâm dữ liệu nhân lực vùng tứ giác kinh tế.
  • Khẳng định phát triển nguồn nhân lực KHCN chất lượng cao là quốc sách then chốt, đòi hỏi sự gắn kết hữu cơ giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp nhằm giữ vững vị thế đầu tàu kinh tế của TP.HCM.

Công trình nghiên cứu của tác giả Huỳnh Thiện Nhi là tài liệu học thuật giá trị cao, đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho các đề án quy hoạch nhân lực đô thị. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể khai thác chi tiết hệ thống dữ liệu, bảng biểu và phụ lục chuyên sâu trực tiếp tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.