Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1. Những vấn đề chung về từ 1. Khái niệm về từ. Cho đến nay, vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong cách định nghĩa về từ.S Cao Xuân Hạo, “Chúng ta hiểu tính da dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho các đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordssyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word).
Thực ra nó chính là âm, hình vị, hoặc từ và tất cả là đồng thời nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ thì cơ cấu của Tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết”. Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ba nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một chữ viết rời. Theo quan niệm của Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê, “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được. Nguyễn Văn Tu cho rằng, “Từ là đơn vị nhỏ nhất và đơn lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính biện chứng và lịch sử.
Tác giả Nguyễn Kim Thản viết, “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và một khối hoàn chỉnh về ngữ âm (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp. Hồ Lê nêu ý kiến, “Từ là đơn vị ngôn ngữ có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động có khả năng kết hợp 8 tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa. Lưu Văn Lãng cho rằng: “Những đơn vị dùng tách biệt rõ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất.
Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất và từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp Tiếng Việt”.214] Đỗ Hữu Châu quan niệm: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định bất biến, có ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) cấu tạo nhất định, tuân theo những kiểu hoặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.14] Qua các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nhận thấy có thể khái quát về khái niệm từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, mang tính sẵn có, cố định và là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo nên câu. Các thành phần về nghĩa của từ Mỗi khi học nghĩa của một từ, chúng ta liên hội từ với những cái mà nó chỉ ra (trước hết là sự vật, hiện tượng, hành động hoặc thuộc tính…mà từ đó làm tên gọi cho nó). Mặt khác nghĩa của từ cũng được thông qua các tình huống giao tiếp ngôn ngữ mà từ đó được sử dụng. Từ liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng.
Nghĩa của từ không chỉ có một thành phần. Khi nói về nghĩa của từ, người ta thường phân biệt các thành phần nghĩa sau đây: 1. Nghĩa biểu vật (denotative) Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được gọi là nghĩa biểu vật của từ. Hay nói cách khác, nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ.
Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình có bản chất vật chất hoặc phi vật chất. Ví dụ: đất, trời, mây, mưa, nắng, nóng, lạnh, thánh, thần,.Ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh 9 trong tự nhiên. Ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc. Ta có thể chứng minh điều này dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ.
Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế sự vật luôn luôn tồn tại trong dạng cá thể, còn nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt, khái quát… Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thực khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ. Nghĩa biểu niệm (significative) Sự vật và hiện tượng trong thế giới khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm. Hay nói cách khác, khái niệm là phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế. Đấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng.
Các thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa. Tập hợp của các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành nghĩa biểu niệm. Như vậy, nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ. Các nét nghĩa bắt buộc từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế.
Mỗi dân tộc, tùy theo ngôn ngữ của mình, chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập nghĩa của từ trong hệ thống. Nghĩa biểu niệm chiếm vị trí hàng đầu trong từ vựng -ngữ nghĩa. Cần phải hiểu mối liên hệ mà chúng ta nói tới trong quan niệm về nghĩa của từ ở đây chính là mối liên hệ chỉ xuất, mối liên hệ phản ánh, cho nên nghĩa biểu hiện cũng có thể hiểu là sự phản ánh sự vật – biểu vật (đúng là phản ánh các thuộc tính, các đặc trưng của chúng) trong ý thức con người, được tiến hành bằng từ. 10 Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định.
Giữa các nét nghĩa có mối quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số nghĩa biểu vật của từ. Chính vì nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm. Ví dụ: Nước biển, nước mắm, ngồi ghế, ngồi chồm hổm, cái bàn, quần áo,… 1.
Nghĩa biểu thái (pragmatical meaning) Nghĩa ngữ dụng còn gọi là nghĩa biểu thái, là mối liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói. Thuộc phạm vi nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá như: “mạnh yếu”, “to nhỏ”,…nhân tố cảm xúc như: “dễ chịu”, “khó chịu”, “sợ hãi”, “ngạc nhiên”,… nhân tố thái độ như: “trọng”, “khinh”, “yêu”, “ghét”,…mà từ gợi ra cho người nói và người nghe. Sự chuyển nghĩa của từ trong hệ thống 1. Nguyên nhân sự chuyển nghĩa của từ Sự chuyển nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như sự phát triển không ngừng của thực tế khách quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tượng kiêng cữ, sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ…Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất chính là “nhu cầu giao tiếp của con người”.
Thay đổi nghĩa của một từ có sẵn, thổi vảo chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp ứng được kịp thời của nhu cầu giao tiếp. Các dạng chuyển nghĩa của từ Dạng móc xích Dạng tỏa ra 1. Phương thức chuyển nghĩa của từ Một từ có thể có một hoặc nhiều nghĩa, nhưng đó không phải là những 11 tổ chức lộn xộn. Nếu là một từ nhiều nghĩa (đa nghĩa) thì các nghĩa đó của từ có quan hệ với nhau, được sắp xếp theo những cơ cấu tổ chức nhất định.
Trong từng nghĩa của mỗi từ cũng vậy, chúng gồm những thành tố nhỏ hơn, có thể phân tích ra được và cũng được sắp xếp theo một tổ chức nào đó. Như vậy, xét cơ cấu nghĩa của từ là ta xác định xem từ đó có bao nhiêu nghĩa, mỗi nghĩa có bao nhiêu thành tố nhỏ hơn, và tất cả chúng được sắp xếp trong quan hệ với nhau như thế nào. Để xây dựng, phát triển thêm nghĩa của từ, trong ngôn ngữ có nhiều phương thức. Tuy nhiên, có hai phương thức quan trọng nhất thường gặp trong các ngôn ngữ là: chuyển nghĩa ẩn dụ (metaphor) và chuyển nghĩa hoán dụ (metonymy).
Phương thức ẩn dụ Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b, c, d vì giữa a, b, c,d có điểm giống nhau. Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng. Ví dụ: Từ CHÂN trong tiếng Việt có nhiều nghĩa. Khi định danh cho chân người, nó có nghĩa là: Bộ phận cuối cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi, đứng, chạy, nhảy.
Trên cơ sở so sánh nhiều sự vật khác có hình dạng tương tự (hoặc người Việt liên tưởng và cho là chúng tương tự nhau, người ta đã chuyển CHÂN sang gọi tên cho những bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ cho các bộ phận khác như: chân đèn, chân ghế, chân bàn, chân giường) nó khác so với những hoạt động bằng chân của con người mà ta nói ở trên. Có hai hình thức chuyển nghĩa: - Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể) - Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu tượng). Phương thức hoán dụ Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên cho sự vật b, c, d vì giữa a, b, c, d tuy không giống nhau nhưng có một quan hệ gần nhau nào đó về không gian hay thời gian. Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tiếp cận.
Ví dụ: “Đàn bà dễ có mấy tay, Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan”. (thơ Nguyễn Du) Thì các từ tay, mặt, gan không mang nghĩa đen chỉ đối tượng (cái tay, khuôn mặt, bộ gan) mà dùng để chỉ con người trong nghĩa bóng của nó, như vậy bộ phận của con người được dùng để chỉ chính con người.