Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Mô tả dự án và khung phân tích dự án Chương 3: Phân tích kinh tế Chương 4: Phân tích tài chính Chương 5: Khuyến nghị chính sách Chương 6: Kết luận -5- CHƢƠNG 2. MÔ TẢ DỰ ÁN VÀ KHUNG PHÂN TÍCH DỰ ÁN 2. Giới thiệu dự án 2. Lý do hình thành dự án Hiện nay, SHTP đang thu hút nhiều nhà đầu tư, ước tính nhu cầu XLNT của toàn bộ KCN là 17.
Vì vậy công suất của hệ thống XLNT trung tâm hiện hành 5.000m3/ngày đêm không thể đáp ứng được. Có hai phương án được xem xét: Thứ nhất: các công ty đầu tư vào SHTP tự xây dựng hệ thống XLNT riêng lẻ để nguồn nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn cột A QCVN40:2011/BTNMT trước khi xả ra môi trường. Thứ hai: xây dựng hệ thống XLNT tập trung bổ sung công suất 12.000m3/ngày đêm cho toàn KCN để giải quyết nhu cầu xả thải và thu phí XLNT. Xét trên khía cạnh hiệu quả tài chính: phương án thứ nhất kém hiệu quả hơn về mặt tài chính vì ngành XLNT mang tính lợi thế theo quy mô, tức là với công suất càng lớn thì chi phí trung bình trên một đơn vị càng nhỏ, vì vậy chi phí để đầu tư một hệ thống XLNT riêng lẻ đạt tiêu chuẩn và chi phí vận hành để xử lý 1m3 nước thải khá cao.
Phương án thứ hai hiệu quả hơn về mặt tài chính vì tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô.So sánh chi phí ầu tƣ và vận hành hệ thống XLNT riêng lẻ và tập trung Chi phí (trên 1m3 nƣớc Đầu tƣ hệ thống XLNT tập Đầu tƣ riêng lẻ (VNĐ) thải công nghiệp) trung (VNĐ) Đầu tƣ trên 1m3 nƣớc 25.000 thải Chi phí vận hành 1m3 4.000 nƣớc thải Nguồn tham khảo từ PIT dữ liệu từ dự án Xét về tác động tới môi trường: đối với các doanh nghiệp, hệ thống XLNT là hệ thống không sinh lợi, vì vậy không doanh nghiệp nào muốn bỏ chi phí để xây dựng. Điều đó dẫn đến thực trạng việc xây dựng hệ thống XLNT một cách hình thức ở nhiều doanh nghiệp, nếu bị phát hiện, các doanh nghiệp chấp nhận chịu phạt còn hơn là bỏ ra chi phí lớn để xây dựng hệ thống XLNT. Tuy nhiên, ngay cả khi các doanh nghiệp đảm bảo xử lý theo đúng -6- yêu cầu thì việc có quá nhiều đơn vị xả thải làm nồng độ chất thải đầu ra tăng thêm, nhà nước cũng khó khăn hơn trong việc kiểm tra chất lượng đầu ra nên dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường cao hơn. Khi có hệ thống xử lý trung tâm, tất cả nước thải được thu gom về một đầu mối và được xử lý nên nhà nước thuận lợi hơn trong việc kiểm tra đảm bảo chất lượng nước thải đầu ra, nên nguy cơ ô nhiễm môi trường thấp hơn so với việc xây dựng riêng lẻ.
Như vậy, có thể thấy việc đầu tư xây dựng hệ thống XLNT trung tâm đạt hiệu quả về mặt tài chính, giảm việc xả thải bất hợp pháp và giảm tác động xấu đến môi trường hơn so với phương án xây dựng hệ thống riêng lẻ 9, vì vậy dự án nên được xem xét thực hiện. Sơ lƣợc v dự án Dự án xây dựng hệ thống XLNT trung tâm cho SHTP được xây dựng trong khuôn viên 3 hecta của SHTP, Quận 9, TP.HCM, chủ đầu tư là Công ty Cổ Phần Pioneer Technology.Vị trí dự án Nguồn: Google Map 9 Zengwei Yuan & Yun Bi (2010). -7- Mục tiêu dự án: đảm bảo thu gom nước thải từ tất cả các nguồn của SHTP gồm nước thải sản xuất, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các phòng thí nghiệm; xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường Việt Nam trước khi thải ra môi trường. Nước sau khi xử lý một phần được sử dụng cho việc tưới cây xanh trong SHTP, phần còn lại thải ra sông Gò Công (phường Long Thạnh Mỹ, Quận 9).
Dự án xây dựng hệ thống xử lý trung tâm công suất 12.000 m3/ngày đêm bao gồm 8 module, mỗi module công suất 1.500m3/ ngày đêm, với các hạng mục công trình xây dựng: Bể tách 400m3 Bể kỵ khí-thiếu khí-hiếu khí Anaerobic-Anoxic-Oxic (AAO) 300 m3 Bể thu gom 20 m3 Trạm điều khiển và làm việc Thời gian xây dựng 1 năm (dự kiến trong năm 2015) bao gồm các khâu từ thiết kế, xây dựng đến lắp đặt máy móc thiết bị. Vòng đời dự án 30 năm (từ 2016 – 2045) kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động. Tổng mức đầu tư (TMĐT) dự kiến 261,42 tỷ VNĐ (bao gồm dự phòng, lãi vay trong thời gian xây dựng). Huy động vốn: 70% từ ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB); 30% vốn tự có.
C u trúc dự án Hình 0.C u trúc dự án Nhà cung cấp hóa chất, máy móc thiết bị Thi công xây dựng Nhà thầu VDB 70% Nhà máy xử lý nước thải PIT Vốn tự có 30% Tư vấn, thiết kế, lắp đặt máy móc KH tiềm năng Doanh nghiệp trong SHTP 2. Công nghệ dự án Hệ thống XLNT của Công Ty Cổ Phần Pioneer Technology (PIT) dựa trên công nghệ nền là xử lý AAO, vượt trội ở điểm xử lý lọc dòng hồi liên tục và tự động hóa các khâu xử lý quy trình. Hệ thống không chiếm quá nhiều diện tích xây dựng, nước thải đầu ra đảm bảo đạt chất lượng trước khi được thải ra ngoài môi trường (Phụ lục 1: Thuyết minh công nghệ XLNT của PIT).Quy trình XLNT Nguồn: Thuyết minh hệ thống X NT của PIT tại SHTP. Khung phân tích kinh tế 2.
Khung ph n tích tính khả thi kinh tế Khung phân tích kinh tế được sử dụng trong luận văn là phương pháp phân tích lợi ích và chi phí trong trường hợp có và không có nhà máy XLNT trung tâm công suất 12.000m3/ ngày đêm: Lợi ích kinh tế: Nếu không có dự án mà vẫn mở rộng SHTP, như đã phân tích ở phần 2.1 về lý do hình thành dự án, nếu các doanh nghiệp trong SHTP tự đầu tư xây dựng hệ thống thì tổng chi phí đầu tư cao và nguy cơ ô nhiễm môi trường cao hơn. Nồng độ nước thải vượt tiêu chuẩn được xả thẳng vào nguồn nước được sử dụng cho sinh hoạt của người dân sẽ gây ra nhiều tác động đến môi trường, đặc biệt ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe người dân, gây ra các loại bệnh tật và làm phát sinh các chi phí liên quan đến bệnh tật. Nếu như có dự án, chi phí đầu tư giảm, giảm việc xả thải bất hợp pháp và giảm tác động xấu đến môi trường nên chi phí bệnh tật được giảm thiểu, nói cách khác nền kinh tế tiết kiệm được một khoản chi phí do bệnh tật gây ra, đây là một trong những ngoại tác tích cực của dự án và luận văn sẽ tập trung đo lường lợi ích này. Chi phí kinh tế bao gồm: chi phí đầu tư ban đầu kinh tế, chi phí hoạt động kinh tế.
Các chi phí này được xác định dựa vào chi phí tài chính, luận văn sẽ tính toán các hệ số -10- chuyển đổi (CF) để chuyển từ chi phí tài chính qua chi phí kinh tế với công thức như sau: Chi phí kinh tế = CF x Chi phí tài chính. Ngân lưu ròng của dự án được xác định bằng lợi ích kinh tế trừ chi phí kinh tế. Ngân lưu ròng được chiết khấu về hiện tại với suất chiết khấu bằng chi phí vốn của nền kinh tế. Tiêu chuẩn NPV kinh tế và IRR kinh tế được sử dụng trong việc ra quyết định bác bỏ hay lựa chọn dự án.
Dự án khả thi về mặt kinh tế nếu NPV kinh tế dương và IRR kinh tế lớn hơn chi phí vốn của nền kinh tế. Khung lý thuyết o lƣờng tác ộng ến môi trƣờng Mức độ tác động đến môi trường thường khó đo lường chính xác vì các ảnh hưởng này có sự tích tụ qua không gian và thời gian, ngoài ra nhiều hàng hóa dịch vụ, giá trị chịu ảnh hưởng không được định giá trên thị trường. Các khó khăn này khiến cho việc đo lường trở nên phức tạp và bị hạn chế vì dữ liệu s n có thường khó tìm hoặc chất lượng kém. Vì vậy, việc lựa chọn những kỹ thuật định giá phụ thuộc vào từng tình huống và dữ liệu s n có.
10 Dixon & Bojo (1994) đã đưa ra các kỹ thuật để lượng hóa các tác động đến môi trường như sau: 10 European Commission (1999), “A study on the Economic valuation of environmental externalities from landfill disposal and incineration of Waste” -11- Hình 0. Sơ ồ các kỹ thuật lƣợng hóa tác ộng ến môi trƣờng Đo lƣờng tác ộng môi trƣờng Sự thay đổi sản Sự thay đổi lượng sản xuất chất lượng môi trường Nơi ở Chất lượng Giải trí Tài sản lịch sử, nước và không văn hóa, thẩm khí mỹ PP tiếp cận chi Tác động sức Chi phí du lịch PP khảo sát phí cơ hội khỏe mức độ s n lòng chi trả PP chi phí thay Bệnh tật Chết PP khảo sát thế/ phục hồi mức độ s n lòng chi trả PP giá trị đất Thu nhập mất Chi phí ngăn đi chặn PP khảo sát Chi phí y tế Chi phí Vốn mức độ s n con người lòng chi trả PP chi phí thay thế/ phục hồi Chi phí ngăn chặn Sự hiệu quả của việc ngăn ngừa Dựa vào sơ đồ trên, có hai kỹ thuật thường được dùng để đo lường tác động đến môi trường của dự án: thứ nhất là đo lường thông qua sự thay đổi của sản lượng sản xuất của các hàng hóa chịu ảnh hưởng, thứ hai là thông qua sự thay đổi chất lượng môi trường. Tuy nhiên, phương án thứ nhất khó khăn trong việc tiếp cận cơ sở dữ liệu, vì khó có thể xác định được sản lượng sản xuất hoặc các sản lượng của sản phẩm nông nghiệp chịu ảnh hưởng, cũng như rất khó khăn trong việc đưa ra các dự báo các sản lượng này sẽ thay đổi như thế nào khi có hoặc không có dự án. Vì vậy, luận văn sử dụng kỹ thuật đo lường thông qua sự thay đổi chất lượng môi trường.
-12- Chất lượng môi trường thay đổi gây ra nhiều tác động đến nơi ở, du lịch, sức khỏe con người, tài sản Vì vậy, có thể định giá được sự thay đổi chất lượng môi trường thông qua tính toán những thiệt hại do thay đổi giá trị đất, thiệt hại về du lịch, giảm giá trị các tài sản, chi phí do bệnh tật và ảnh hưởng tính mạng con người bằng các phương pháp được thể hiện ở sơ đồ 2.