chương I: tác giả không có nghiên cứu vẻ khách hàng, KHCN của NHTM, về hoạt động CRM chỉ nói về khách hàng chung chung, chưa cụ thể về KHCN. + Trong chương 2: chưa đánh giá được sự hài lòng của khách hàng về hoạt động CRM của ngân hàng. + Trong chương 3: phần giải pháp, tác giả chưa phân nhóm khách hàng để có chính sách chăm sóc cụ thể. - Luận văn cao học” Quản trị quan hệ khách hàng cá nhân tại ngân hàng HDBank chỉ nhánh Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Tấn Phong năm 2015 Với luận văn này, tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận về CRM khá đầy đủ, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp, nhưng đề tài có một số hạn chế sau: Trong chương 2: tác giả đi vào nghiên cứu thực trạng quản trị quan hệ khách hàng tại ngân hàng mà cơ bản là các chính sách marketing chứ chưa đánh giá toàn bộ các hoạt động quản trị quan hệ khách hàng.
10 - Luận văn cao học” Quản trị quan hệ khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội chỉ nhánh Đắk Lắk” của tác giả Phạm Thi Ánh Tuyết năm 2015. Tác giả đã hệ thống hóa tương đối đầy đủ về quản trị quan hệ khách hàng, tác giả phân tích thực trạng bao gồm lợi thế, hạn chế và đưa ra nguyên nhân của những hạn chế đối với công tác quản trị quan hệ khách hàng, dựa trên những căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng chính sách khách hàng cho nhóm khách hàng mục tiêu. Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung các luận văn nêu trên đều dựa trên mô hình IDIC để làm cơ sở lý luận, thực trạng CRM tại chỉ nhánh các ngân hàng cũng như giải pháp để thực hiện CRM. Điều này thì khá đơn giản, chưa phản ánh hết tính năng, lợi ích mà phần mềm CRM mang lại trong hoạt động NHTM.
Chưa đánh giá tổng quát sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ của ngân hàng để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ dựa trên những mong muốn, nhu cầu của khách hàng hiện tại cũng như trong tương lai. 11 CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁCH HÀNG VÀ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1. Tổng quan về khách hàng, khách hàng cá nhân của NHTM a.
Khách hàng của NHTM Khách hàng của NHTM là tập hợp những cá nhân, nhóm người, doanh nghiệp.có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng và mong muốn được thỏa mãn nhu cầu đó của minh [6, tr. Theo Peter Drucker “Mục đích của một đơn vị kinh doanh là tạo ra khách hàng”. Khách hàng có thể bên ngoài ngân hàng như những cá nhân, tập thể mua và sử dụng dịch vụ của ngân hàng hay xuất phát từ nội bộ của ngân hàng như đội ngũ nhân viên của ngân hàng. Các ngân hàng tồn tại nhờ vào việc cung cấp dịch vụ trên thị trường và họ không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc cạnh tranh để dành khách hàng, sự sống còn của ngân hàng phụ thuộc vào khách hàng, khách hàng là nguồn lực chủ yếu tạo nên sự thành công cho ngân hàng và cũng là người đem lại nguồn thông tin cho ngân hàng.
Đó là lý do tại sao có rất nhiều ngân hàng nói rằng người quan trọng nhất trong ngân hàng chúng tôi đó là khách hàng. Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế mà khách hàng là thượng để. Đây là kết quả của việc cung nhiều hơn cầu. Một thực tế là hiện nay, không.
chỉ có một hay vài người bán mà có rất nhiều người bán cùng một sản phẩm. Khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn. Điều cần làm của một nhà quản lý, người lãnh đạo giỏi chính là làm sản phẩm của bạn đặc biệt hơn sản phẩm các doanh nghiệp khác và thuyết phục khách sử dụng sản phẩm, dịch vụ. 12 b, Khách hàng cá nhân của NHTM Khách hàng cá nhân là một người hoặc một nhóm người có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng để phục vụ cho mục đích của cá nhân hoặc gia đình họ.
Dịch vụ khách hàng cá nhân của NHTM là những dịch vụ cung ứng những. tiện ích ngân hàng đến tận tay người tiêu dùng. Vì vậy, đối tượng của dịch vụ khách hàng cá nhân là vô cùng lớn bao gồm các cá nhân và hộ gia đình. Một khách hàng sử dụng dịch vụ khách hàng cá nhân có lột lúc sử dụng nhiều dịch vụ của ngân hàng hiện đại như gửi ết kiệm, vay bằng thẻ tín dụng, thấu chỉ nhiều lần, trả lương qua tài khoản, ATM rút tiền hạn mức, tự động trích tài khoản gửi tiết kiệm hàng tháng, trả tiền điện, nước, các dịch vụ sinh hoạt thông qua tài khoản ngân hàng, không cần trực tiếp tới ngân hàng, mà giao dịch thông qua các phương tiện cá nhân như: mạng internet, điện thoại di động.các tiện ích dịch vụ được sử dụng trên phạm vi toàn cầu.
Phân loại khách hàng cá nhân của NHTM - Khách hàng cá nhân bên ngoài + Theo nhân khẩu: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, phân loại nghề nghiệp (công nhân hay công chức), thu nhập, tình trạng hôn nhân + Theo khu vực: địa phương, ngoại tỉnh, quố tệ + Theo sản phẩm, dịch vụ: khách hàng tiền gửi, khách hàng tiền vay, khách hàng sử dụng các dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử, chuyển tiền trong nước, thanh toán quốc tế. + Theo lịch sử quan hệ: khách hàng cũ, khách hàng đang giao dịch và khách hàng tiềm năng + Theo nguồn lợi khách hàng mang lại: khách hàng VIP, khách hàng lớn, khách hàng nhỏ, khách hàng tiềm năng - Khách hàng cá nhân nội bộ (KHCN bên trong) 13 KHCN bên trong ở đây được hiểu là những người làm việc trong các bộ phận, các chỉ nhánh khác nhau của ngân hàng. Nói cách khác họ là những nhân viên trong ngân hàng, là người trực tiếp tiếp xúc và sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Đây không phải là khách hàng truyền thống nhưng họ cũng cần được quan tâm chăm sóc và đối xử như những khách hàng bên ngoài.
Người quản lý giỏi là người biết biến những người thân quen — nhân viên công ty thành đối tượng khách hàng tiềm năng và trung thành. Đồng thời, có thể mở rộng việc kinh doanh dựa vào mối quan hệ của các nhân viên đó. Hơn ai hết, nhân viên công ty là người hiểu rõ nhất về sản phẩm, họ sẽ giúp quảng cáo tốt thương hiệu của đơn vị. Đặc điểm khách hàng cá nhân của NHTM - Số lượng nhiều, quy mô giao dịch phần lớn là nhỏ.
~ Nhu cầu sử dụng sản phẩm dịch vụ phong phú, đa dạng vì khác nhau về độ tuổi, giới tính, thu nhập, trình độ văn hóa, sở thích ~ Nhu cầu thường xuyên thay đổi và gia tăng. - Quyết định sử dụng sản phâm của khách hàng thường ít phức tạp hơn. khách hàng tổ chức - Việc sử dụng dịch vụ chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn. hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý 1.
Tổng quan về quan hệ khách hàng a. Khái niệm về quan hệ khách hàng Mối quan hệ với khách hàng là một quá trình tương tác hai chiều giữa doanh nghiệp và khách hàng, trong đó hai bên cùng trao đổi các nguồn lực lẫn nhau đề cùng đạt được mục tiêu của mình [6, tr. Các giai đoạn phát triển của quan hệ khách hàng ~ Thiết lập mối quan hệ khách hàng: Đẻ thiết lập được mối quan hệ cần có các đầu mối thông tin. Những thông tin đó dù không nhiều nhưng phải 14 đảm bảo là lý thú và người cung cấp thông tin phải đáng tin cậy [6, tr.
- Củng cố mối quan hệ khách hàng: Để tăng giá trị mối quan hệ, các doanh nghiệp cần tập trung nhiều hơn cho việc củng cố các mối quan hệ hơn là thiết lập chúng. Điều quan trọng trong gian đoạn này là chuyền từ sự hài lòng của khách hàng thành sức mạnh của mồi quan hệ [6, tr. - Kết thúc quan hệ khách hàng: Khi mối quan hệ không thẻ tồn tại được thì sẽ dẫn đến phải chấm dứt, nhưng điều quan trong là làm thế nào để hai bên cùng cảm thấy hài lòng [6, tr. QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG CA NHAN TAI NGAN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng Có nhiều khái niệm về hoạt động CRM, mỗi khái niệm cung cấp cho. chúng ta một cách hiểu về việc xây dựng, duy trì và khai thác giá trị khách hàng của doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng. Theo Kristin Anderson va Carol Kerr “Quan tri quan hé khach hang là một chiến lược toàn diện nhằm thiết lập, duy trì và mở rộng các quan hệ khách hàng” [7, tr. Theo định nghĩa này CRM bao gồm toàn bộ các hoạt đông liên quan tới khách hàng như tạo lập, duy trì và mở rộng khách hàng và nó không đơn thuần là hoạt động bán hàng hay marketing.
Hay nói cách khác, CRM là cách thức suy nghĩ và giải quyết mối quan hệ với khách hang. CRM cũng có thé coi là tiêu chuẩn đánh giá chiến lược của ngân hàng. Quản trị quan hệ khách hàng (CRM) là quá trình ra quyết định quản trị với mục tiêu cuối cùng là gia tăng giá trị của cơ sở khách hàng thông qua mi quan hệ tốt hơn đối với khách hàng dựa trên việc cá biệt hóa khách hàng (Peppers & Rogers, 2004). CRM là một chiến lược kinh doanh và do vậy có nhiều hơn một chiến lược chức năng.
Nó ảnh hưởng đến tô chức như một toàn thể: tiếp thị, công 15 nghệ thông tin, dịch vụ, hậu cần, tài chính, sản xuất và phát triển, nhân sự, quản lý, vv [10, tr. 6] Các khái niệm về CRM được xác định theo ba quan điểm: (1) nhắn mạnh yếu tố công nghệ, (2) nhắn mạnh đến quy trình kinh doanh hay bán hàng và (3) coi CRM chính là chiến lược kinh doanh [2, tr. Quan điển coi CRM như một giải pháp công nghệ: CRM là một hệ thống thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cùng với những phương pháp phân tích để đưa ra những báo cáo, bảng biểu giúp doanh nghiệp có một bức tranh tông thể è khách hàng, thị trường và những vấn dé cần quan tâm khác trong kinh doanh. CRM Ia một quy trình hoặc phương pháp: được doanh nghiệp sử dụng để tìm hiểu về nhu cầu và hành vi của khách hàng trong quá trình mua bán, nhằm phát triển môi quan hệ thân thiết hơn với họ.
Có rất nhiều yếu tố công nghệ làm nên chương trình CRM, nhưng CRM không chỉ là những chương trình phần mềm quản lý quan hệ khách hàng.