CHƯƠNG 1 MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ NỢ CÔ 1.1 TONG QUAN VE NQ CONG 1.1 Khái niệm về nợ công Nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chỉ trả khoản nợ đó. Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ. Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia. Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước.
và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân). Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia. Xuất phát từ sự khác biệt trong khái niệm khu vực công nên cách xác định nợ công của các cơ quan quản lý nợ công và tổ chức kinh tế - tài chính trên thể giới cũng khác nhau. Có thể chia cách xác định nợ công này thành hai nhóm: nợ công theo nghĩa hẹp và nợ công theo nghĩa rộng.
Nợ công theo nghĩa hẹp: Theo Điều 1, khoản 2 Luật quản lý nợ công (2009), Việt Nam định nghĩa nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Theo đó, nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước và ngoài nước, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung 14 ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành. Ng công theo nghĩa rộng: Nợ công ngoài ba thành phần theo nghĩa hẹp còn bao gồm cả nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương và các tổ chức trực thuộc chính phủ (bao gồm doanh nghiệp nhà nước). Cách tính này được Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính (DMEAS) của ƯNCTAD sử dụng. Ta thấy, theo cách tính giữa nợ công theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng thì nghĩa vụ nợ phát sinh là yếu tố khác biệt quan trọng nhất giữa hai cách phân loại trên.
Đứng từ góc độ doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước phải tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ nợ, khoản mục mà nó tự vay, tự trả và sẽ không được tính vào nợ công theo định nghĩa của Việt Nam. Điều này là bất hợp lý bởi nhà nước là đơn vị đóng góp 100% vốn hoặc nắm cổ phan, vốn góp chỉ phối tại các doanh nghiệp này. Do vậy, khoản nợ của các doanh nghiệp nhả nước cũng thể hiện phần nào đó nhà nước đi vay (một phần hoặc toàn bộ). Thực tế, các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam hiện nay rất lớn.
Mặc dù theo Nghị định 25/2010/NĐ-CP, các DNNN 100% vốn nhà nước được chuyển thành công ty TNHH một thành viên nhưng khi những doanh nghiệp này gặp khó khăn trả nợ và đứng trên bờ vực phá sản thì nhà nước có thể sử dụng ngân sách và các biện pháp khác để giải cứu. Trường hợp điển hình trong trường hợp này là Vinashin, chính phủ đã đứng ra thực hiện các biện pháp hỗ trợ trả nợ cho các khoản nợ đến hạn mà Vinashin không có khả năng chỉ trả. Khi ấy, gánh nặng nợ của doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển thành trách nhiệm nợ của khu vực công và tạo áp lực lên gánh nặng ngân sách. Do có sự khác biệt trong việc tính toán nợ công và chưa có một chuẩn mực chung để đánh giá nên con số mà Bộ Tài chính công bố khác xa so với một số nghiên cứu gần đây.
Bởi vì hạn chế trong việc tiếp cận số liệu nên trong. luận văn này, tôi sử dụng định nghĩa nợ công theo nghĩa hẹp đẻ phân tích. Phan loại nợ công Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công. Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay, nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài.
Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước. Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thỏ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài. Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ. Việc phân loại này sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế.
Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an nỉnh tiền tệ vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác. Theo phương thức huy động vốn, nợ công có hai loại: nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thâm quyên với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định.
thỏa thuận giữa các nhà nước. Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ đề vay vốn. Các công cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và có khả năng chuyên nhượng trên thị trường tài chính. Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công, nợ công có ba loại: nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường.
Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA) là khoản vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam từ nhà tải trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên Chính phủ có yếu tố không hoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với 16 khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay không ràng buộc.Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA.Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường. Theo trách nhiệm đối với chủ nợ, nợ công được phân loại thành: nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh. Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ. Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ.
Theo cấp quản lý nợ, nợ công được phân loại thành: nợ công của trung ương và nợ công của chính quyền địa phương. Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh. Nợ công của chính quyền địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ. Việc phân loại nợ công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụng nợ công.
Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có giải pháp quản lý bảo đảm quy mô nợ phù hợp, qua đó sẽ chủ động tăng hay giảm nợ để tạo nguồn thúc đây phát triển kinh tế - xã hội.3 Đặc điểm của nợ công Thứ nhất, nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước. Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước có trách nhiệm trả khoản nợ ấy. Trách nhiệm trả nợ. của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ: trả nợ trực tiếp và trả nợ gián tiếp.
Trả nợ trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thảm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay. Trả nợ gián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả 17 được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ. quan đứng ra bảo lãnh (Ví dụ: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài). Thứ hai, nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẳm quyền.
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: một là đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia, hai là đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn. Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội. Nguyên tắc quản lý nợ công Việt Nam là Nhà nước quản lý thống nhát, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bỏ, sử dụng, vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơ bản trên. Thứ ba, mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích cộng đồng.
Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng. Ở Việt Nam, xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, cụ thể là đề phát triển kinh tế - xã hội của đắt nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất. Các hình thức vay nợ của chính phủ a. Phát hành trái phiếu chính phú.
Chính phủ có thể phát hành trái phiếu chính phủ đề vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế, thậm chí in thêm tiền đề thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn.