Chương I: Lý luận về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Chương 2: Phân tích tình hình cho vay đối với doanh nghiệp ngành dệt may tại Ngân hàng TMCP Quốc tế igt Nam — CN Ba Ning Chương 3: Khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp ngành dệt may trên địa bàn Đà Nẵng. 10 CHUONG 1 LY LUAN VE HOAT DONG CHO VAY DOI VOI DOANH NGHIEP CUA NHTM 1. KHAI QUAT VE CHO VAY DOI VOI KHACH HANG DOANH NGHIEP CUA NHTM 1. Đặc điểm và vai trò cho vay doanh nghiệp của NHTM &.
Khái niệm cho vay của NHTM 'Về mặt nội dung kinh tế, tín dụng ngân hàng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ chủ thể này (ngân hàng) sang chủ thể khác (khách hàng) với điều kiện phải hoàn trả theo những thỏa thuận trước giữa hai bên. Nội dung chính của sự thỏa thuận này là “thời hạn phải trả, số tiền lãi phải trả, cách thức phải trả”. Tại Việt Nam, theo theo khoản 14, điều 4, Luật các tô chức tín dụng số 47/2010/QH12: Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong đó, cho vay là hình thức cấp tín dụng phô biến nhất.
Theo khoản 16, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Như vậy, cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với doanh nghiệp, theo đó ngân hang giao cho doanh nghiệp một khoản bằng tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. il Hoạt động cho vay nói chung cũng như cho vay doanh nghiệp nói riêng đều cần thiết phải đảm bảo ba nguyên tắc chung của tín dụng, đó là: ~ Nguyên tắc sử dụng vốn vay đúng mục đích, vốn vay phải có mục đích, đảm bảo sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận giữa hai bên được thể hiện trong hợp đồng tín dụng. ~ Nguyên tắc hoàn trả, vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi.
~ Nguyên tắc bảo đảm tiền vay, vốn vay phải có bảo đảm tiền vay. Thực chất của nguyên tắc này là sự đảm bảo khả năng thu hồi nợ cho ngân hàng, giúp ngân hàng có thêm nguồn vốn khác đề thu hồi nợ nếu mục đích cho vay bị phá sản. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp của NHTM Đối tượng khách hàng rất đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong. lĩnh vực khác nhau.
Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp: nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, bổ sung vốn lưu động, tài sản có định; xây dựng nhà xưởng; đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh. Các khoản vay thường có giá trị lớn và có thê rất lớn. Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn so với cho vay cá nhân bởi tính pháp lý của doanh nghiệp. Nguồn trả nợ của người đi vay từ tiền bán hàng, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác.
Khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tài chính đầy đủ, chặt chẽ hơn so với khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, nhờ vào hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo thuế. Tuy nhiên, tùy thuộc vào báo. 12 cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chat lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp. Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tồn thất lớn cho.
phía ngân hàng. Do đó, hoạt động quản trị rủi ro đối với các khoản cho vay doanh nghiệp được các cấp lãnh đạo NHTM chú trọng quan tâm. e_ Vai trò cho vay doanh nghiệp của NHTM Đối với nền kinh tế: cho vay doanh nghiệp của NHTM là động lực thúc day tăng trưởng kinh tế, là công cụ thúc đầy quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng, thông qua việc cung ứng vốn kịp thời đẩy đủ và linh hoạt cho doanh nghiệp.Từ đó, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp ồn định xã hội. Cho vay doanh nghiệp của NHTM còn là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của Nhà nước, góp phân thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế thông qua định hướng đầu tư tín dụng với các chính sách tín dụng, nhất định, cho vay của ngân hàng có tác dụng rất to lớn đến điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với chính sách và định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước trong từng thời kì nhất định.
Đối với doanh nghiệp: cho vay doanh nghiệp của NHTM giúp đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho doanh nghiệp. Nguyên tắc hoạt động của cho vay là nguyên tắc hoàn trả góc và lãi đầy đủ, đúng hạn; vậy nên, bất kỳ một doanh nghiệp nào có nhu cầu vay vốn ngân hàng, điều đầu tiên họ nghĩ đến phải là tính toán hiệu quả sử dụng vốn vay, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN giúp DN tăng được uy tín và mở rộng được quy mô kinh doanh. Đối với ngân hàng: hoạt động cho vay doanh nghiệp đem lại lợi nhuận cho ngân hàng, thông qua hoạt động cho vay doanh nghiệp, ngân hàng mở rộng được các loại hình dịch vụ khác. Phân loại cho vay doanh nghiệp của NHTM Có nhiều cách phân loại cho vay doanh nghiệp tùy theo nhu cầu của nhà phân tích.
Thông thường, việc phân loại cho vay doanh nghiệp dựa trên các căn cứ sau: - Căn cứ vào thời hạn cho vay: Căn cứ vào thời hạn vay, người ta chia làm 03 loại: Cho vay ngắn hạn: Cho vay ngắn hạn là loại hình cho vay có thời hạn vay không vượt quá 12 tháng. Cho vay trung hạn và dài hạn: Loại cho vay có thời hạn cho vay trên một năm (tín dụng trung hạn có thời hạn từ trên 1 năm đến dưới 5 năm, tín dụng dài hạn có thời hạn từ 5 năm trở lên). - Căn cứ theo hình thức đảm bảo: Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng cho vay , ngân hàng có thể cho vay cho khách hàng theo các hình thức: Cho vay bảo đảm bằng tài là loại tín dụng mà các khoản cho vay. phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như cầm có, thế chấp, chiết khẩu và bảo lãnh.
Cho vay bảo đảm không bằng tài sản: là loại tín dụng mà các khoản cho vay phát ra không cần tài sản thế chấp, mà chỉ dựa vào tín chấp. - Căn cứ phương thức cho vay : Theo quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành ngày 31/12/2001, ngân hàng tiến hành cho vay theo các phương thức sau: Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng tiến hành thực hiện những thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng ấn định và cam kết cho vay trong giới hạn phạm vi hạn mức tín dung - số dư nợ cho vay cao nhất cho một khách, có hiệu lực trong một thời gian nhất định. Khi đã được ngân hàng ấn 14 định hạn mức tín dụng thì khách hàng được quyền vay vốn với số dự trong phạm vi của hạn mức tín dụng đó.
Cho vay theo dự án đâu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: Là loại hình cho vay gồm một nhóm ngân hàng thương mại cùng tham gia tài trợ chung một dự án vay, trong đó một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp các ngân hàng còn lại để cùng cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tô chức tín dung cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
Cho vay theo hạn mức thấu chỉ: Là việc cho vay mà tô chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chỉ vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. Các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cắm, phù hợp với quy định tại quy chế cho vay và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và đặc điểm của khách hàng vay. - Căn cứ phương thức hoàn trả nợ vay Theo phương thức hoàn trả nợ. vay, thì tín dụng có thể được chia làm hai loại: cho vay hoàn trả một lần, và cho vay tra gop.
Cho vay hoàn trả một lần: Các khoản vay được hoàn trả một lần vào thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể được hoàn trả theo thỏa thuận trong hợp đồng, chẳng hạn theo tháng, theo quý hoặc theo năm. Cho vay trả góp: Việc hoàn trả được tiến hành định kỳ, các khoản này có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau, tùy theo thỏa thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. Rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của NHTM Rủi ro tín dụng trong cho vay là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng nghĩa vụ hoàn trả theo các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, cụ thể là khách hàng chậm thời hạn trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Rủi ro tín dụng thường được phân loại thành: rủi ro đặc thù (RRTD của một người vay cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của người vay) và rủi ro hệ thống (RRTD phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay như suy thoái kinh tế).