Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. - Chương 2: Tổng quan về khả năng sinh lợi, rủi ro tín dụng, và tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng. - Chương 3: Thực trạng khả năng sinh lợi và rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. - Chương 4: Nghiên cứu về tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 123doc 4 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG SINH LỢI, RỦI RO TÍN DỤNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO TÍN DỤNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG. Tổng quan về khả năng sinh lợi của ngân hàng 2.
Khái niệm về khả năng sinh lợi. Theo Quản trị Ngân hàng thương mại Rose (1996), ngân hàng hoạt động như một tập đoàn kinh doanh với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận trong mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lợi là mục tiêu được quan tâm hơn hết vì lợi nhuận cao sẽ các ngân hàng bảo toàn vốn, tăng thị phần và thu hút đầu tư. Trong các nghiên cứu trước đây, nhiều tác giả đã đề cập đến khả năng sinh lợi.
Cụ thể, theo Rose (1996) thì có thể hiểu như sau: “Khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản”.
Như vậy, ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lợi ít nhất cần đủ để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách: o Đảm bảo duy trì vốn cho hoạt động của các ngân hàng (cho vay, đầu tư, …) o Trả được các khoản gốc và lãi cho các nguồn huy động vốn. Lãi thu được từ các hoạt động sinh lợi trong năm tài khoá có thể được trích chia cho cổ đông hoặc vẫn duy trì dưới dạng vốn dự trữ. Nếu không tính tới thuế và lãi, khả năng sinh lợi của tài sản phải cho phép tích luỹ đủ tiền để đảm bảo vốn kinh 123doc 5 doanh, đảm bảo hoàn trả nợ, đóng góp vào việc tăng vốn và trả lợi nhuận đầu tư vốn cho các cổ đông.
Mọi quyết định và thay đổi về việc nắm giữ tài sản không chỉ làm nảy sinh vấn đề tài chính mà còn làm nảy sinh cả vấn đề sinh lợi. Cần chú ý là khả năng sinh lợi của tài sản chỉ là một phần vấn đề nảy sinh từ khả năng sinh lợi của các nguồn vốn thực hiện. Trên thực tế, rủi ro trong hoạt động của ngân hàng do các cổ đông gánh chịu. Lợi nhuận mà họ thu được không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản mà còn phụ thuộc vào chi phí huy động.
- Khả năng sinh lợi quyết định đến hoạt động của một ngân hàng. Nếu khả năng sinh lợi cao, ngân hàng hoạt động hiệu quả, từ đó nâng cao uy tín và tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng hoạt động. Chính vì vậy, bất kỳ ngân hàng nào cũng đặt mục tiêu tăng khả năng sinh lợi lên hàng đầu và luôn đặt ra các chính sách, giải pháp để cải thiện khả năng sinh lợi (Tạp chí Tài chính (2015)). Các chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi.
Khả năng sinh lợi có thể được đo lường bằng nhiều phương pháp khác nhau. Theo đó, một số chỉ tiêu phổ biến như khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (tỷ lệ thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu) – ROE; khả năng sinh lợi trên tổng tài sản (tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản) – ROA; tỷ lệ thu nhập lãi cận biên – NIM. Giống như tất cả các chỉ số tài chính khác, mỗi tỷ lệ đo lường khả năng sinh lợi được sử dụng trong từng trường hợp khác nhau và phản ánh những ý nghĩa không khác nhau đáng kể. Tuy nhiên, theo các nghiên cứu trước đây, hai chỉ tiêu phổ biến thường áp dụng để đo lường khả năng sinh lợi là ROE và ROA (Ali (2015), Saeed và Zahid (2016), Gizaw và cộng sự (2015)).
Khả năng sinh lợi trên vốn chủ sở hữu – ROE Tỷ lệ thu nhập ròng trên vốn chủ sở hữu là tỷ số đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng, nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Chỉ tiêu này thường được sử dụng đại diện cho khả năng sinh lợi của ngân hàng trong nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới 123doc 6 như Ali (2015) trong nghiên cứu tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại tại Jordania, hay tác giả Saeed và Zahih (2016) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại tại Anh, Gizaw và cộng sự (2015) khi nghiên cứu tác động của rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng thương mại tại Ethiopia, hay nghiên cứu của Ishmael (2015) khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại Ghana. Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là ngân hàng đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn huy động để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình kinh doanh. Cụ thể khả năng sinh lợi được đo lường phổ biến theo công thức sau: 2.
Khả năng sinh lợi trên tổng tài sản – ROA Khả năng sinh lợi trên tổng tài sản cũng được sử dụng phổ biến để đại điện cho khả năng sinh lợi trong nhiều nghiên cứu trước đây chẳng hạn như Olawale và cộng sự (2015) khi nghiên cứu mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại Nigeria, hay nghiên cứu của Perry (2015) về mối quan hệ giữa quản trị rủi ro tín dụng và khả năng sinh lợi của các ngân hàng tại Zimbabwe, Antoniadis và cộng sự (2010) trong nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng Hy Lạp. Tỷ lệ thu nhập ròng trên tổng tài sản là tỷ số đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Tỷ lệ ROA sẽ cho ta thấy sự hiệu quả của ngân hàng trong việc quản lý, sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận. Công thức tính ROA phổ biến như sau: 123doc 7 2.
Tổng quan về rủi ro tín dụng. Trong tất cả các rủi ro của ngân hàng thì rủi ro tín dụng được cho là rủi ro quan trọng nhất, nguy cơ cao nhất ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng (Boudriga và cộng sự (2009)). Rủi ro tín dụng xảy ra trong giao dịch tiền vay, bên vay không trả các khoản nợ gốc và lãi trong thời gian đã thỏa thuận (Koch và Macdonald (2014)). Quan điểm đề cao rủi ro tín dụng cũng được Agarwal (2015) khẳng định rủi ro tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng, và tầm quan trọng của rủi ro tín dụng càng được thấy rõ trong cuộc khủng hoảng tài chính.
Hiện nay có khá nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng cụ thể: Theo Fitch(1997): rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo Greuning và Bratanovic (1999), rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Đồng thời, Ernst và Young (2010) chỉ ra rằng tất cả các lãnh đạo trong tổ chức tín dụng đều quan tâm rủi ro tín dụng hơn cả trong các rủi ro của ngân hàng. Có 67% cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro ưu tiên hàng đầu, một số rủi ro khác được quan tâm như: 44% chọn rủi ro hoạt động, 38% rủi ro thanh khoản, 33% rủi ro thị trường. Từ các định nghĩa trên, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: - Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán trong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh. 123doc 8 - Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến thất thoát tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.
Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản. Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng ẩn chứa trong những khoản vay có vấn đề và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Có nhiều chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của một ngân hàng, trong các bài nghiên cứu trước đây về rủi ro tín dụng như Gizaw và cộng sự (2015), Olawale và cộng sự (2015), Samuel và cộng sự (2012) thì các chỉ tiêu đại diện cho rủi ro tín dụng được đề cập chủ yếu từ các chỉ tiêu sau: 2.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ - NPL. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ nợ xấu (là nợ thuộc các nhóm 3,4,5 theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”) trong tổng dư nợ của ngân hàng. Để xác định tỷ lệ nợ xấu, ta dùng công thức sau: Chỉ tiêu này thể hiện chất lượng tín dụng tại ngân hàng.