Luận văn thạc sĩ tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Nguyên

Luận văn thạc sĩ phân tích sâu sắc tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên. Khám phá các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên

Đầu tư là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mọi quốc gia và địa phương. Đối với tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh tỉnh đang chuyển mình mạnh mẽ. Thái Nguyên nằm ở trung tâm vùng trung du miền núi phía Bắc, cách Hà Nội khoảng 75km theo đường cao tốc. Tỉnh sở hữu nhiều lợi thế về vị trí địa lý, nguồn nhân lực và hạ tầng kỹ thuật. Theo kết quả nghiên cứu của luận văn thạc sĩ năm 2016, đầu tư có tác động tích cực và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của Thái Nguyên tăng trưởng liên tục qua các giai đoạn. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010-2015 đạt khoảng 12,5%, cao hơn mức bình quân chung cả nước. Đầu tư phát triển được xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược của tỉnh, bao gồm đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Các nguồn vốn đầu tư bao gồm ngân sách nhà nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đặc biệt là vốn đầu tư tư nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn.

1.1. Khái niệm đầu tư và tăng trưởng kinh tế

Đầu tư là hoạt động bỏ vốn để tạo lập, mở rộng, cải thiện hoặc thay thế các tư liệu sản xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận hoặc đạt được mục tiêu kinh tế xã hội. Đầu tư bao gồm nhiều hình thức như đầu tư công, đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo thời gian, phản ánh sự mở rộng quy mô nền kinh tế. Mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng được thể hiện qua hệ số ICOR, đo lường lượng vốn cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng tăng thêm. Chỉ số này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong nền kinh tế.

1.2. Vị trí địa lý và tiềm năng phát triển của Thái Nguyên

Thái Nguyên nằm ở vị trí chiến lược trong tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Tỉnh có diện tích tự nhiên 3.526 km² với dân số khoảng 1,15 triệu người. Thái Nguyên được xác định là trung tâm kinh tế, giáo dục đào tạo lớn của vùng trung du miền núi phía Bắc. Tỉnh có hệ thống giao thông thuận lợi với cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, quốc lộ 3, quốc lộ 1B và đường sắt kết nối. Thái Nguyên còn là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực với 9 trường đại học và 11 trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp. Những lợi thế này tạo nền tảng vững chắc để thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

II. Phân tích thực trạng đầu tư và tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên

Thực trạng đầu tư tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy sự chuyển biến tích cực qua các giai đoạn. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh tăng liên tục, từ mức thấp trong những năm đầu đổi mới đến quy mô lớn hơn trong giai đoạn 2010-2015. Cơ cấu vốn đầu tư có sự dịch chuyển rõ rệt. Tỷ trọng vốn ngân sách nhà nước giảm dần, trong khi vốn đầu tư tư nhân và FDI tăng lên đáng kể. Đặc biệt, sau khi Samsung đầu tư nhà máy sản xuất tại Khu công nghiệp Yên Bình, vốn FDI đổ vào Thái Nguyên tăng mạnh. Về tăng trưởng kinh tế, GRDP của tỉnh duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Giai đoạn 2005-2010, tốc độ tăng trưởng đạt 14,1%. Giai đoạn 2010-2015 đạt khoảng 12,5%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra một số hạn chế như hiệu quả sử dụng vốn đầu tư chưa cao, phân bổ nguồn lực chưa tối ưu giữa các ngành và vùng miền trong tỉnh.

2.1. Tình hình thu hút và phân bổ vốn đầu tư

Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên tăng trưởng mạnh, đặc biệt từ giai đoạn 2010 trở đi. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 15.000-20.000 tỷ đồng/năm trong giai đoạn 2010-2015. Vốn ngân sách nhà nước tập trung vào hạ tầng giao thông, thủy lợi và các công trình phúc lợi xã hội. Vốn FDI tăng đột biến nhờ dự án Samsung với tổng vốn đăng ký hàng tỷ USD. Vốn đầu tư tư nhân phát triển mạnh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và bất động sản. Tuy nhiên, phân bổ vốn giữa các huyện chưa đồng đều, tập trung chủ yếu ở thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp.

2.2. Đánh giá tác động của đầu tư đến tăng trưởng GRDP

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy và tính hệ số ICOR để đánh giá tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy, vốn đầu tư có mối tương quan thuận và có ý nghĩa thống kê với GRDP của tỉnh. Hệ số ICOR của Thái Nguyên dao động trong khoảng 3-5, phản ánh hiệu quả đầu tư ở mức trung bình khá so với bình quân cả nước. Mỗi đồng vốn đầu tư tăng thêm đều góp phần làm tăng tổng sản phẩm trên địa bàn. Tuy nhiên, mức đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) còn thấp, cho thấy tăng trưởng chủ yếu dựa vào tăng lượng vốn đầu tư chứ chưa dựa nhiều vào đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất.

III. Giải pháp thúc đẩy đầu tư phục vụ tăng trưởng kinh tế Thái Nguyên

Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên. Trước hết, tỉnh cần hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút đầu tư, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian cấp phép và hỗ trợ doanh nghiệp cần được đẩy mạnh. Thứ hai, tỉnh cần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư, huy động hiệu quả các nguồn lực trong xã hội. Chính sách ưu đãi đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Thứ ba, phát triển đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông kết nối, hạ tầng khu công nghiệp và hạ tầng thông tin. Thứ tư, đầu tư phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư. Cuối cùng, cần tăng cường liên kết vùng và hợp tác phát triển với các tỉnh trong vùng Thủ đô.

3.1. Hoàn thiện chính sách thu hút và quản lý đầu tư

Giải pháp trọng tâm là cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng minh bạch, thông thoáng và cạnh tranh. Thái Nguyên cần thành lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm xúc tiến đầu tư, trở thành đầu mối hỗ trợ nhà đầu tư. Chính sách ưu đãi đầu tư cần tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tăng cường đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn. Xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả đầu tư công, tránh lãng phí và thất thoát. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đầu tư và cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

3.2. Phát triển hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực

Thái Nguyên cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, đặc biệt là các tuyến đường kết nối với Hà Nội và các tỉnh lân cận. Phát triển hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp với đầy đủ tiện ích để thu hút nhà đầu tư. Đầu tư nâng cấp hệ thống cấp thoát nước, điện năng và viễn thông phục vụ sản xuất. Về nguồn nhân lực, phát huy lợi thế trung tâm đào tạo lớn của vùng, liên kết giữa trường đại học và doanh nghiệp để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các nhà đầu tư. Tạo cơ chế thu hút nhân tài và chuyên gia giỏi về làm việc tại tỉnh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu đầu tư Thái Nguyên

Nghiên cứu về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Nguyên đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Thứ nhất, nghiên cứu xác nhận mối quan hệ thuận và có ý nghĩa thống kê giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Thứ hai, hiệu quả đầu tư được cải thiện qua các giai đoạn nhưng vẫn còn khoảng cách so với các tỉnh phát triển. Hệ số ICOR trung bình cho thấy Thái Nguyên cần khoảng 3-5 đồng vốn đầu tư để tạo ra 1 đồng tăng trưởng. Thứ ba, nghiên cứu chỉ ra rằng yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tăng trưởng, đòi hỏi tỉnh phải chú trọng đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản lý. Thứ tư, cơ cấu đầu tư có sự chuyển dịch tích cực, vốn tư nhân và FDI ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Kết luận chính là đầu tư có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế Thái Nguyên. Tốc độ tăng trưởng cao của tỉnh giai đoạn 2005-2015 có đóng góp quan trọng từ đầu tư phát triển.

4.1. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu có ý nghĩa lý luận trong việc làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng kinh tế ở cấp tỉnh, bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách đầu tư của tỉnh Thái Nguyên. Các số liệu phân tích giúp đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, từ đó điều chỉnh chiến lược đầu tư cho phù hợp. Nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các địa phương khác trong vùng trung du miền núi phía Bắc khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế dựa trên đầu tư.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong tương lai

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cách mạng công nghiệp 4.0, Thái Nguyên cần điều chỉnh chiến lược đầu tư theo hướng bền vững. Ưu tiên thu hút đầu tư vào công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ giá trị gia tăng. Phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội. Tăng cường liên kết vùng để khai thác lợi thế cạnh tranh, đặc biệt trong tam giác phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2020-2025 và tầm nhìn 2030. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý đầu tư và phát triển kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Luận văn thạc sĩ tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 1. Cơ sở lý luận về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Theo ngân hàng thế giới: Đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài theo một lĩnh vực nhất định (như thăm dò, khai thác, chế biến, sản xuất kinh doanh, dịch vụ.) và đưa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp tương lai trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn và có lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước được đầu tư.

Theo luật đầu tư của Việt Nam năm 2005: Đầu tư là việc các nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định và các luật pháp liên quan. Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Do vậy, đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính vào quá trình đầu tư.

Nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ. Như vậy, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian nhất định ở hiện tại để thu được lợi nhuận kinh tế và lợi ích xã hội trong tương lai. Đặc điểm của đầu tư Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chủ yếu sau: * Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn. Vốn đầu tư nằm đọng khá lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.

Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án 6 trọng điểm quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề hậu dự án tạo ra như bố trí lao động, giải quyết lao động đôi dư. * Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình dự đầu tư có thời gian đầu tư kéo dài đến hàng chục năm.

* Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian này tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy kết quả lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc. Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội.

* Các thành quả của hoạt động đầu tư mà là công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng lên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. * Hoạt động đầu tư có tính rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài. nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư thường cao.

Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu. có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế. Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế Từ trước đến nay khi nói về đầu tư, không một nhà kinh tế học nào và không một lý thuyết kinh tế nào lại không nói đến vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế. Có thể nói rằng đầu tư là cốt lõi là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Vai trò của đầu tư đối với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ tác động cũng như thời gian ảnh hưởng là khác nhau. Bởi vì, xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối lượng hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế nhưng đứng về tổng cung thì nó làm cho sản xuất gia tăng, giá cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con người.

Như vậy, đầu tư là nhân tố cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế. Vai trò của đầu tư đối với sự ổn định nền kinh tế Đầu tư luôn có một độ trễ nhất định, tức là “đầu tư hôm nay, thành quả mai sau”. Ngoài ra do đầu tư có ảnh hưởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế không ăn khớp về thời gian do vậy nó có thể phá vỡ sự ổn định của một nền kinh tế. Nếu đầu tư tốt nó có thể giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

Khi tăng đầu tư trong nước, khi đó làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hóa dịch vụ liên quan tăng theo, điều đó là tổng cầu của nền kinh tế tăng, theo quy luật cung cầu của kinh tế tăng dẫn đến giá cả hàng hóa cũng tăng lên mạnh mẽ, và đến một mức độ nào đó có thì dẫn tới lạm phát, với tỉ lệ có thể rất cao. Khi lạm phát xảy ra, giá cả tăng vọt, dẫn đến các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng lên dẫn đến sản xuất bị đình trệ, và người lao động thất nghiệp, nền kinh tế giảm thu nhập và đời sống giảm sút. Tất cả điều đó làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ và làm giảm tốc độ phát triển. Tuy nhiên 8 nếu các quốc gia điều tiết đầu tư thì không những khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực mà còn làm cho nó trở thành động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Vai trò của đầu tư đối với tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Ta thấy rõ rằng đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu và tác động đến sự ổn định của nền kinh tế. Như vậy, sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế sẽ chịu ảnh hương rất lớn của đầu tư. Đầu tư còn làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất do vậy đầu tư còn có vai trò rất lớn trong việc thay đổi tốc độ phát triển kinh tế. Vì vậy, đối với mỗi quốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu tư có hiệu quả nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Vai trò của đầu tư đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mỗi một quốc gia được coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế tăng trưởng theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỷ lệ cao trong GDP của nước đó. Bới vì nông nghiệp do nhiều hạn chế về điều kiện tự nhiên và khả năng sinh học của cây trồng vật nuôi nên chỉ có tốc độ tăng trưởng tối đa từ 5-6%. Do vậy, khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao, nó có khả năng đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước đó lên cao 9-10%. Muốn vậy chúng ta phải chính sách đầu tư thỏa đáng.

Mỗi nước cần tăng cường tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ và có nhiều chính sách phát huy hiệu quả của đầu tư có vậy thì công nghiệp và dịch vụ phát triển. Trong nông nghiệp cũng nên đầu tư nhiều hơn cho chăn nuôi bởi chăn nuôi thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trồng trọt. Còn đối với cơ cầu vùng lãnh thổ một quốc gia phát triển thường có cơ cấu kinh tế lãnh thổ cân đối và đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Do vậy bên cạnh việc đầu tư trọng điểm để phát triển thành thị và các vùng đồng bằng chúng ta cần có nhiều chính sách đầu tư phát triển kinh tế các vùng núi và 9 nông thôn để vừa phát triển kinh tế xã hội vừa tạo sự cần bằng ổn định trong khu vực.

Vai trò của đầu tư đối với khoa học kỹ thuật. Khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh tế xã hội hiện đại. Ở các nước đang phát triển, họ có mức đầu tư lớn, có quá trình phát triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ của họ hơn hẳn các nước khác trên thế giới. Khi họ áp dụng các thành tựu này làm cho nền kinh tế có mức độ tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống nhân dân nâng cao.

Còn đối với các nước đang phát triển, do công nghệ nghèo nàn, lạc hậu lại không có điều kiện để nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật nên kinh tế phát triển rất thấp, sản xuất kém phát triển và bị phụ thuộc vào các nước công nghiệp. Muốn thoát khỏi tình trạng này thì các nước phải tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu tư từ bên ngoài vào trong nền kinh tế. Đầu tư ở đây được hiểu là các nước này thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù hợp đồng thời tổ chức nghiên cứu để phát minh ra các công nghệ mới hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại của các nước này có thành công hay không thành công phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư phát triển khoa học công nghệ.

Có thể khẳng định rằng đầu tư khoa học công nghệ là một chính sách cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư a. Những yếu tố thuộc về môi trường vi mô: - Tiến bộ khoa học kỹ thuật : Các hoạt động đầu tư phải đi theo trào lưu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ