Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về rủi ro thanh khoản của các NHTM. Chương 3: Thực trạng về rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. Chương 4: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam.
Chương 5: Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro thanh khoản của các NHTM Việt Nam. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Thanh khoản và rủi ro thanh khoản trong ngân hàng 2.1 Khái niệm Theo Nguyễn Văn Tiến (2012), “Thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các hoạt động giao dịch tài chính khác”. Theo Trần Huy Hoàng (2011), “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phátsinh”. Theo Joel Bessis (2012), “Thanh khoản đại diện cho khả năng ngân hàng có thể thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn (đến mức tối đa) và bằng đơn vị tiền tệ được quy định.
Do thực hiện bằng tiền nên thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản”. Theo “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Basel (2008) thì “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng vừa có thể tăng thêm tài sản vừa đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị những thiệt hại quá mức cho phép”. Từ những khái niệm trên, tác giả kết luận rằng thanh khoản là khả năng thanh toán của một NHTM để đáp ứng các yêu cầu chi trả của khách hàng với một mức chi phí hợp lý.
Một NHTM có khả năng thanh khoản cao khi có thể huy động được nhiều nguồn khác nhau với chi phí thấp để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính một cách kịp thời.2 Các nhân tố tác động đến tính thanh khoản của ngân hàng Môi trường hoạt động Các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội luôn có tác động tới các quyết định và kế hoạch kinh doanh của một NHTM. Các yếu tố kinh tế vĩ mô như ổn định chính trị 123doc 6 trong nước và khu vực, chính sách của Nhà nước, một môi trường đầu tư hấp dẫn, tỷ trọng của các khối ngành kinh tế cũng làm cho cơ cấu đầu tư của NHTM thay đổi. Điều này gây ra sự thay đổi về cơ cấu tài sản của ngân hàng và khả năng thanh khoản của chính NHTM đó. Văn hóa, tập quán, tâm lý, thói quen, mức độ chấp nhận rủi ro cũng có ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định gửi tiền của người dân.
Các yếu tố này có tác động không nhỏ đến quỹ dự trữ và thanh khoản của một ngân hàng có nguồn huy động lớn từ công chúng. Chính sách tiền tệ của NHTW Thông qua các nhóm công cụ khác nhau của chính sách tiền tệ khác nhau, NHTW có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, điều chỉnh, thu hẹp hay mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh của NHTM. Để điều tiết lượng tiền trong lưu thông, NHTW có thể sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc làm giảm khối lượng tín dụng và khả năng tạo tiền của các NHTM. Với các NHTM, quy định về dự trữ bắt buộc đã trực tiếp giảm bớt khả năng thanh khoản và tăng chi phí huy động vốn cho các NHTM.
Những công cụ quản lý khác của NHTW như chính sách chiết khấu, nghiệp vụ thị trường mở cũng tác động trực tiếp đến khả năng huy động của các NHTM trên thị trường. Tóm lại, khả năng chi trả của các NHTM dựa vào nguồn huy động vốn ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào chính sách tiền tệ của NHTW. Chiến lược quản lý thanh khoản của ngân hàng Một NHTM với cơ chế quản lý và sử dụng nguồn vốn yếu hơn có khả năng xảy ra RRTK cao hơn. Việc tổ chức thiết lập một cơ chế quản lý và sử dụng vốn khoa học, có kế hoạch, tổ chức công tác quản lý thanh khoản tốt, đổi mới và sử dụng công nghệ ngân hàng tiên tiến sẽ giúp nâng cao chất lượng quản lý vốn và nguồn vốn.
Các NHTM có quy mô hoạt động lớn cũng đối diện với những khó khăn trong công tác quản lý và sử dụng nguồn vốn. Khi đó, các NHTM cần xây dựng một hệ thống quản lý thanh khoản, giúp dự báo những biến động hàng ngày của trạng thái thanh khoản. Yêu cầu của hệ thống này là phải đánh giá được một cách toàn diện và kiểm soát được những yếu tố tác động có thể làm tăng hay giảm trạng thái thanh khoản. Từ đó giúp cho NHTM 123doc 7 tính toán giới hạn dự trữ thanh khoản.
Quá trình hoạch định các nhu cầu thanh khoản cần thực hiện thường xuyên và đều đặn, dựa trên các dữ liệu được lưu trữ trong quá khứ của hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng. Hệ thống quản lý thanh khoản phải xây dựng được các chiến lược quản lý thanh khoản, xem xét những yếu tố làm thay đổi nguồn tiền gửi tiềm năng, các cam kết tài trợ tín dụng…, đảm bảo cung ứng đủ nguồn cho các nhu cầu chi trả, cấp tín dụng nhưng vẫn phải đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Sự phát triển của thị trường tiền tệ Các NHTM có thể huy động các nguồn vốn ngắn hạn một cách linh hoạt trên thị trường tiền tệ. Thị trường tiền tệ cũng là nơi các NHTM có thể tìm kiếm những cơ hội đầu tư thích hợp cho các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình.
Tham gia vay và cho vay trên thị trường tiền tệ giúp ngân hàng chủ động sắp xếp, cơ cấu lại bảng tổng kết tài sản phù hợp với mục tiêu phát triển của ngân hàng. Sự phát triển thị trường tiền tệ, thị trường vốn thúc đẩy quá trình luân chuyển vốn và chất lượng các khoản vay, góp phần cân đối kì hạn của các loại tài sản của từng NHTM. Chính vì vậy, xây dựng và phát triển một thị trường tiền tệ luôn là mong muốn của các cơ quan quản lý vĩ mộ và của các thành viên tham gia thị trường. Sự phát triển của thị trường tiền tệ phụ thuộc rất nhiều vào chính sách quản lý, điều chỉnh của các cơ quan quản lý Nhà nước, phụ thuộc vào chất lượng quản lý nguồn vốn và ý chí của từng thành viên tham gia thị trường.
Các nhân tố khác Các yếu tố như uy tín của ngân hàng, khả năng phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ và kinh nghiệm, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo sẽ tạo ra được một lòng tin đối với công chúng. Các nhân tố này góp phần tạo sự ổn định cho nguồn tiền gửi cũng như chất lượng nguồn vốn huy động, giảm RRTK của ngân hàng.3 Cung thanh khoản và cầu thanh khoản của ngân hàng Khả năng thanh khoản của các NHTM được thể hiện trong nguồn cung và cầu về thanh khoản. 123doc 8 Cung thanh khoản là các nguồn cung vốn làm tăng khả năng thanh toán của ngân hàng gồm: Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng; các khoản thu từ việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ; các khoản thu hồi từ cho vay hoặc đầu tư; tiền từ việc bán tài sản, thu hồi từ xử lý các tài sản bảo đảm; vay các TCTD khác hoặc từ NHTW; vốn cổ phần góp thêm của các cổ đông (tăng vốn điều lệ),… Cầu thanh khoản là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng, bao gồm: Khách hàng rút tiền gửi; khách hàng rút vốn vay, thanh toán các khoản vay của ngân hàng, đầu tư cho các hợp đồng hạn mức đã ký hoặc cấp tín dụng, đầu tư mới; xử lý dự phòng rủi ro cho các khoản tín dụng, đầu tư do không thu hồi được; hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi; đầu tư, mua sắm tài sản để mở rộng mạng lưới hoặc nâng cao chất lượng hoạt động; các khoản chi phí phát sinh cho hoạt động kinh doanh ngân hàng; thanh toán cổ tức bằng tiền cho các cổ đông,… Đảm bảo một mức thanh khoản phù hợp là vấn đề mà bất kỳ một nhà quản trị RRTK nào cũng đặc biệt chú trọng.4 Trạng thái thanh khoản ròng Sự kết hợp giữa cung thanh khoản và cầu thanh khoản sẽ quyết định trạng thái thanh khoản ròng (net liquidity position – NLP) của một NHTM tại một thời điểm cụ thể, được tính bằng công thức: NLP = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản - Khi NLP > 0 nghĩa là ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản. Khi cung thanh khoản lớn hơn cầu thanh khoản thì ngân hàng đang ở trạng thái thặng dư thanh khoản.
Lúc này, các NHTM phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải sử dụng nguồn thanh khoản thừa để đầu tư sinh lợi đến khi đáp ứng được nhu cầu thanh khoản trong tương lai. Trường hợp này rất dễ xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, các NHTM không tiếp cận được với khách hàng hoặc không thể lựa chọn được người đi vay. Thặng dư thanh khoản có thể sử dụng để: Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó; 123doc 9 Cho các TCTD khác vay; Gửi tiền tại các TCTD khác. - Khi NLP < 0 nghĩa là ngân hàng đang ở trạng thái thâm hụt thanh khoản.
Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản thì ngân hàng ở trạng thái thâm hụt thanh khoản. Khi đó, các NHTM phải đưa ra quyết định ở đâu và vào thời điểm nào cần phải bổ sung nguồn dự trữ thanh khoản phục vụ các nhu cầu thanh toán hoặc các nghĩa vụ tài chính với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất. Thâm hụt thanh khoản được nhận biết khi NHTM đó không đủ nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu cấp tín dụng của khách hàng, của nền kinh tế… Khi đó, ngân hàng có thể áp dụng một trong những biện pháp sau để xử lý: sử dụng dự trữ bắt buộc nếu có; bán dự trữ thứ cấp; vay liên ngân hàng, tái chiết khấu từ NHTW; phát hành chứng khoán… - Khi NLP = 0 có nghĩa là ngân hàng đang ở trạng thái cân bằng thanh khoản. Khi cung thanh khoản bằng cầu thanh khoản thì ngân hàng ở trạng thái cân bằng thanh khoản.2 Rủi ro thanh khoản 2.1 Khái niệm Theo E.