Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm người khuyết tật theo công ước quốc tế và luật người khuyết tật Theo công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật được đại hội đồng liên hợp quốc thông qua ngày 13/3/2007 thì khái niệm người khuyết tật được hiểu là một khái niệm mở, tiến triển theo thời gian và điều kiện xã hội, theo đó thì các quốc gia tham gia công ước sẽ: Thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển và sự khuyết tật xuất phát từ sự tương tác giữa người có khuyết tật với những rào cản về môi trường và thái độ, những rào cản này phương hại đến sự tham gia đầy đủ và hữu hiệu của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [14, Điều 1]. Theo đó thì sự khuyết tật và mức độ khuyết tật được đánh giá trên phương diện nó là rào cản ảnh hưởng đến việc người khuyết tật tham gia đầy đủ các hoạt động xã hội, thực hiện các quyền bình đẳng, hợp pháp của mình.
Khái niệm này dẫn đến việc số lượng người được coi là khuyết tật sẽ cao hơn cách tính của Việt Nam. Vì sẽ bao gồm cả những người bị suy giảm một phần chức năng về thị giác, thính giác do tuổi già và các trường hợp tật nhẹ khác. Trong luận văn này, ở mục thực trạng người viết có nêu những số liệu thống kê do cuộc tổng điều tra dân số năm 2009 tập hợp về người khuyết tật tại Việt Nam. Đây là những số liệu dựa trên cách đánh giá theo khái niệm của công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật đã nêu trên.
Tức là đánh giá theo mức độ khó khăn trong việc thực hiện các chức năng nghe, nhìn, vận 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động, tư duy. đây là một cách thống kê tiến bộ và tiệm cận với cách tính phổ biến trên thế giới. Theo luật của Việt Nam, người khuyết tật được hiểu như sau: Điều 2 luật người khuyết tật năm 2010 đã đưa ra những khái niệm cơ bản sau: Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Ở Việt Nam, Ngày 14/7/2006 Văn phòng Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam đã hợp tác với Tổ chức Cứu trợ và Phát triển (CRS) tổ chức dự thảo “Khái niệm và từ ngữ về người khuyết tật”.
Đã có ý kiến đề nghị nên dùng từ “khuyết tật” thay từ “tàn tật”. Hội thảo đã đi đến kết luận là sự cần thiết sử dụng từ “khuyết tật” thay cho “tàn tật” bởi vì những lý do sau: - Mặt ý nghĩa từ “tàn tật” mang ý nghĩa tiêu cực, nặng nề hơn. Việc dùng từ tàn tật sẽ khiến người ta có cảm giác là những người này không còn khả năng gì và điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến sự nỗ lực phấn đấu vượt khó khăn. Trong khi đó từ “khuyết tật” lại mang ý nghĩa là những khiếm khuyết, sự giảm chức năng, phục hồi chức năng, vẫn còn khả năng, còn hy vọng bởi vậy, nó mang ý nghĩa tích cực hơn.
- Xã hội ngày càng phát triển, văn minh hơn, nhận thức của xã hội nói chung và nhận thức của xã hội về người khuyết tật nói riêng cũng thay đổi nên từ ngữ sử dụng cũng cần thay đổi theo xu hướng đó. - Đại bộ phận người khuyết tật mong muốn được gọi là người khuyết tật chứ không phải là người tàn tật vì nó mang tính nhân văn và xã hội nhiều hơn. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phân loại người khuyết tật Để phân loại người khuyết tật nói chung và lao động khuyết tật nói riêng có thể dựa vào các tiêu chí sau đây: a. Theo nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, gồm có: Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bẩm sinh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do bệnh tật; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do chiến tranh; Nhóm nguyên nhân khuyết tật do tai nạn lao động; Do các nguyên nhân khác.
Theo tiêu chuẩn phân loại khả năng suy giảm, khuyết tật và trở ngại (ICIDH) do tổ chức Y tế thế giới ban hành vào năm 1980, gồm 7 dạng: Suy giảm khả năng vận động như bị cụt chân, cụt tay, liệt, bại não. Suy giảm thính giác/nói (giao tiếp); Suy giảm thị giác bao gồm mù, mù màu.; Hành vì cư xử xa lạ (thường là do kết quả bệnh thần kinh phân liệt hay chứng loạn thần kinh hay những bệnh tâm thần khác); Chứng động kinh, ngất xỉu. Theo bộ chỉ số đa mục tiêu: Phản ánh tình hình chung về khuyết tật; phản ánh nguyên nhân khuyết tật, phản ánh cơ cấu địa bàn cư trú của người khuyết tật theo địa giới hành chính, phản ánh theo nhân khẩu học: Giới tính, độ tuổi, dân tộc, tình trạng hôn nhân, phản ánh theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghề nghiệp, phản ánh nhu cầu đa dạng của người khuyết tật theo nhu cầu trợ giúp. Tại cuộc tổng điều tra dân số (TĐTDS) năm 2009 của Việt Nam đã sử dụng khung phân loại quốc tế để phân loại người khuyết tật.
Các phân loại này được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia và các tổ chức phi chính phủ, liên hợp quốc. Đây là khung phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và sức khỏe (ICF) của tổ chức y tế thế giới WTO để xác định tình trạng sức khỏe và khuyết tật. Nguyên tắc chủ chốt trong việc xây dựng khung phân loại này là sự bình đẳng trong cơ hội. Khung phân loại ICF không xét đến những khiếm khuyết của từng cá nhân mà hướng tới khả năng thực hiện các chức 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng của người dân.
Phương pháp phân loại này cho phép so sánh giữa các quốc gia trên toàn thế giới và trên thực tế đã được sử dụng trong TĐTDS ở nhiều quốc gia. TĐTDS sử dụng bộ câu hỏi ngắn, trọng tâm về tình trạng khuyết tật do nhóm Washington về thống kê khuyết tật xây dựng (WGDS 2006). Bộ câu hỏi gồm 4 câu hỏi về mức độ khó khăn trong việc thực hiện 4 chức năng là: 1) Nhìn; 2) Nghe; 3) Vận động; 4)tập trung ghi nhớ. Người trả lời sẽ tự đánh giá mức độ khó khăn của mình theo 4 mức độ 1) không có khó khăn gì; 2) Có khó khăn; 3) Rất khó khăn; 4) Không thể thực hiện được.
Luật người khuyết tật Việt Nam 2010 đã phân loại người khuyết tật như sau: Theo điều 2 NĐ 28/2012/ NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật người khuyết tật thì có 6 dạng khuyết tật như sau: - Khuyết tật thị giác: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. - Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển - Khuyết tật nghe nói: tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. - Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. - Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc.
- Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp đã nêu trên. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc phân loại dạng khuyết tật cũng như xác định mức độ khuyết tật là rất quan trọng vì với mỗi loại khuyết tật sẽ phù hợp với công việc và các trang thiết bị hỗ trợ khác nhau. Các mức độ khuyết tật khác nhau cũng giúp người sử dụng lao động đánh giá được khả năng lao động để bố trí công việc phù hợp cho từng lao động. Khái niệm người lao động khuyết tật Khái niệm người lao động khuyết tật sẽ hẹp hơn khái niệm lao động khuyết tật vì không phải tất cả những người khuyết tật đều có khả năng lao động.
Trong nghiên cứu này chỉ đề cập đến đối tượng lao động là người khuyết tật có năng lực chủ thể tức là có đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi. Họ có đủ năng lực chủ thể mới đủ điều kiện tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó: - Năng lực pháp lý là khả năng chủ thể hưởng các quyền và nghĩa vụ pháp lý được nhà nước thừa nhận, đối với cá nhân có năng lực pháp lý kể từ khi công dân đó được sinh ra. - Năng lực hành vi là khả năng của chủ thể bằng hành vi của mình tham gia vào các quan hệ pháp luật và phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý do hành vi đem lại.
Một chủ thể pháp luật chỉ có đơn thuần năng lực pháp luật không thể tự mình tham gia vào quan hệ pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ chủ thể. Như một người bị bệnh tâm thần nặng mất năng lực hành vi, mất năng lực chủ thể không tham gia vào quan hệ pháp luật không thể tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh do vậy không thể coi là người lao động khuyết tật. Ngoài ra với các dạng khuyết tật khác nhau, mức độ khuyết tật khác nhau cũng quyết định đến khả năng lao động của người khuyết tật. Việc phân loại như vậy là hết sức quan trọng để có thể có những chương trình đào tạo 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghề thích hợp, tư vấn học nghề và tìm những công việc thích hợp, cũng như tạo môi trường lao động thuận lợi cho người lao động khuyết tật.
Tuy nhiên hiện nay ở nước ta, vẫn chưa có bộ quy chuẩn, phân loại lao động khuyết tật một cách chính xác để phục vụ cho các hoạt động dạy nghề và tư vấn việc làm cho người lao động khuyết tật. Hiện chúng ta chỉ có quy định về việc giám định mức độ khuyết tật và quy định không được sử dụng những người khuyết tật từ 51% trở lên làm việc thêm giờ vào ban đêm.