Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền của phụ nữ ở Việt Nam Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về các quyền của phụ nữ ở Việt Nam TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Chương 3. Những giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM 1. Quyền của phụ nữ và pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam 1. Khái niệm quyền của phụ nữ Theo cách hiểu thông thường thì quyền là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [72, tr. Hiện nay trong khoa học luật khái niệm quyền của phụ nữ hiện chưa có một cách hiểu thống nhất và chính thống.
Còn rất nhiều ý kiến xung quanh khái niệm này nhưng các nhà khoa học cũng như những nhà làm công tác thực tiễn đều thống nhất rằng quyền của phụ nữ không thể tách rời quyền con người. Khái niệm quyền con người từ lâu đã được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu cũng như trong đời sống xã hội. Có nhiều trường phái nghiên cứu khi tiếp cận khái niệm quyền con người. Chẳng hạn, trường phái pháp luật tự nhiên thì cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên, khẳng định quyền con người là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ nhận quyền con người do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng cho.
Trường phái thứ hai lại cho rằng, con người cũng như quyền con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội. Họ quan niệm: Quyền con người không phải là một khái niệm trừu tượng, cũng không chỉ là quyền cá nhân con người mang tính tự nhiên, bẩm sinh mà luôn gắn liền với cuộc đấu tranh chống áp bức bóc lột, chống bất công trong xã hội, chịu sự giới hạn của chế độ kinh tế, đặc biệt là chế độ chính trị – nhà nước [53, tr. Khái niệm quyền con người vẫn còn tiếp tục được nghiên cứu và tranh luận nhưng qua nghiên cứu ý kiến của các nhà khoa học, chúng tôi nhất trí với cách hiểu sau về quyền con người: “Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh do cá nhân con người nắm giữ trong mối quan hệ với nhà nước và với những cá nhân con người khác” [79, tr. Làm sáng tỏ TIEU LUAN MOI download : 10 skknchat@gmail.com thuộc tính của quyền con người sẽ giúp hiểu rõ bản chất của quyền của phụ nữ, vì quyền của phụ nữ là một bộ phận của quyền con người nhưng có những thuộc tính đặc biệt do liên quan đến phụ nữ.
Thuộc tính cơ bản của quyền con người là bao gồm những giá trị gắn với mỗi con người, vừa với tư cách là cá nhân, vừa với tư cách là thành viên xã hội. Giá trị đó phải được xã hội hoá bằng cách thể chế hoá thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người. Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là giá trị nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế độ chính trị, pháp luật cụ thể. Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể có nhiều cách phân loại nội dung quyền con người.
Theo cách tiếp cận quyền con người của khoa học pháp lý thì quyền con người được chia thành những nhóm chính sau: + Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí… + Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: Quyền tự do đi lại cư trú trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được an toàn về thư tín, điện thoại, quyền khiếu nại, tố cáo… + Các quyền trong lĩnh vực kinh tế – xã hội bao gồm: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền được bảo hộ hôn nhân và gia đình, quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế, được bảo vệ sức khoẻ, quyền được giáo dục đào tạo, quyền nghiên cứu, phát minh… và một số quyền mang tính chất ưu tiên như quyền trẻ em, quyền người già, người cô đơn không nơi nương tựa. Trên cơ sở nghiên cứu khái niệm quyền con người, chúng ta nhận thấy mối quan hệ tất yếu giữa việc nghiên cứu quyền con người với quyền của phụ nữ. Hiện nay cũng chưa có một định nghĩa nào nói đến quyền của phụ nữ mặc dù ở Việt Nam Luật Bình đẳng giới đã được Quốc hội khoá XI thông qua và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2007. Luật Bình đẳng giới không chỉ ra thế nào là quyền của phụ nữ mà đưa ra những nguyên tắc và biện pháp để thực hiện bình TIEU LUAN MOI download : 11 skknchat@gmail.com đẳng giới ở Việt Nam.
Mục đích của cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới cũng là cuộc đấu tranh cho quyền của phụ nữ trên thực tế. Xuất phát từ mối quan hệ giữa quyền con người với quyền của phụ nữ và đặc điểm riêng của quyền phụ nữ ta có thể đưa ra khái niệm quyền của phụ nữ như sau: Quyền của phụ nữ là quyền con người của phụ nữ. Quyền của phụ nữ là những đặc quyền được pháp luật công nhận, điều chỉnh, hay nói cách khác, phụ nữ có quyền quyết định những gì thuộc về họ và pháp luật bảo vệ những quyền đó. Khi tiếp cận khái niệm quyền của phụ nữ, quyền con người được hiểu theo nghĩa xác định hơn, nó phản ánh những quyền cụ thể của một đối tượng cụ thể.
Quyền của phụ nữ được quy định trong pháp luật luôn có sự xem xét những yếu tố về tâm sinh lý của giới nữ, quan điểm về thuần phong mỹ tục, về văn hoá của một dân tộc để xây dựng nên một khung quy tắc về hành vi ứng xử quan hệ giao tiếp giữa người nam và nữ, sao cho vừa thể hiện lối sống bình đẳng văn minh đồng thời vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, tránh xảy ra sự xung đột và biến đổi xã hội gay gắt. Do đó quyền của phụ nữ không chỉ được hiểu đơn thuần như quyền con người nhưng cũng không thể tách rời quyền con người. Xuất phát từ thực tế thực hiện các quyền của phụ nữ hiện nay mà cuộc đấu tranh cho quyền con người nói chung còn nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có sự phát huy sức mạnh và sự phối hợp trách nhiệm của cả cộng đồng. Đã có nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người nhưng quyền của phụ nữ vẫn là mục tiêu phấn đấu của không chỉ mỗi quốc gia mà còn của cả nhân loại.
Mỗi quốc gia sẽ xây dựng những quy phạm pháp luật riêng để bảo vệ quyền cho phụ nữ. Có như vậy người phụ nữ mới thực sự được bình đẳng, được bảo vệ và có điều kiện phát triển. Pháp luật về quyền của phụ nữ ở Việt Nam “Quyền con người không phải là một nhân tố đầu tiên có trước Nhà nước mà phải bằng pháp luật Nhà nước ghi nhận và thiết định mới trở thành hiện thực” [79, tr. Như vậy, quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng một mặt mang tính chất tự nhiên (quyền tự nhiên), người ta sinh ra đã có các quyền đó, nhà nước không thể không ghi nhận nhưng mặt khác khi chưa TIEU LUAN MOI download : 12 skknchat@gmail.com được nhà nước, pháp luật ghi nhận thì “các quyền tự nhiên” chưa có điều kiện trở thành hiện thực.
Hay nói cách khác, chỉ có pháp luật mới là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền con người, quyền của phụ nữ. Pháp luật phải ghi nhận các quyền của phụ nữ và đảm bảo thực hiện các quyền đó trên thực tế. Ngay tại Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc được thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 cũng đã xác định nguyên tắc có tính chất khái quát về nhân quyền như sau: Tất cả mọi người đều có những quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng. Đó là nền tảng của tự do và chân lý trên thế giới.
Và các quyền con người phải được bảo vệ bằng chế độ pháp luật [52, tr. Có nhiều phương thức để bảo vệ quyền của phụ nữ nhưng pháp luật là phương thức quan trọng nhất và không thể thiếu. Để bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng trước hết được hiểu là sự ghi nhận các quyền đó bằng pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng pháp luật. Hơn nữa, xuất phát từ đặc điểm riêng của phụ nữ nên quyền của phụ nữ phải được xem xét và ghi nhận trên cơ sở những yếu tố đặc thù về giới và nguyên tắc bình đẳng giới.
Nhận thức được tầm quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người nói chung và quyền của phụ nữ nói riêng, ngay từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước Việt Nam đã quan tâm đến việc ghi nhận quyền của phụ nữ. Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền con người, quyền của phụ nữ và coi đó là một trong những nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Ngay trong tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền được tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc [80].
Thấm nhuần tư tưởng nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hiến pháp đầu tiên năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 1992 hiện hành đều thể hiện tư tưởng xuyên suốt là đề cao các quyền con người, quyền của phụ nữ. Ngay sau khi đất nước dành được độc lập, trong Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định một cách rõ ràng: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn TIEU LUAN MOI download : 13 skknchat@gmail.com giáo” [18, tr. Trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, các bộ luật, luật và những văn bản hướng dẫn thi hành của Việt Nam đã và đang xác định nhiệm vụ trọng tâm là ghi nhận và bảo vệ quyền của phụ nữ.
Tuỳ vào những lĩnh vực bảo vệ cụ thể mà quyền của phụ nữ được ghi nhận ở những văn bản pháp luật khác nhau.