CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngày 16/6/2010, Quốc hội thông qua Luật các TCTD số 47/2010/QH12 với nền tảng dựa trên Luật các TCTD năm 1997, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD năm 2004 và Nghị định số 59/2009/NĐ-CP. Luật các TCTD 2010 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2011.
Luật quy định rõ: “NHTM là loại hình NH được thực hiện tất cả các hoạt động NH và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Trong điều kiện kinh tế thị trường, NHTM là được xem là một định chế tài chính trung gian quan trọng. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, TCKT sẽ được huy động, tập trung lại. Từ số tiền huy động đó sẽ được sử dụng để cấp tín dụng cho các TCKT và cá nhân khác đang thiếu vốn với mục đích phát triển kinh tế xã hội.
[3, tr5] Theo pháp lệnh Các TCTD năm 1990 của Việt Nam, NHTM được định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại * Hoạt động huy động vốn NHTM muốn có vốn để cho vay thì phải thực hiện việc huy động vốn. Càng huy động được nhiều vốn thì NH càng có tiềm lực kinh tế mạnh và khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của thị trường càng cao. Do đó, huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản của NHTM và có tính chất sống còn đối với NHTM.
Hoạt động này là cơ sở nền tảng cho các NHTM thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Thông qua hoạt động này NHTM thực hiện chức năng 4 tạo tiền, kích thích việc tiết kiệm trong dân cư đối với những khoản tiền nhàn rỗi, được thực hiện dưới các hình thức như: nhận tiền gửi, phát hành GTCG… * Hoạt động tín dụng Khi đã huy động được vốn rồi, NHTM dùng nguồn vốn này cùng vốn chủ sở hữu đầu tư vào hoạt động tín dụng. Đây là hoạt động cơ bản, có ý nghĩa lớn vì thông qua hoạt động này mà hệ thống NHTM cung cấp một lượng vốn tín dụng rất lớn nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Thông qua việc nhường quyền sử dụng vốn cho người khác trong một thời gian nhất định NH sẽ thu lại được một khoản tiền gọi lài lãi vay hay chính là doanh thu từ việc cho vay.
Hoạt động này mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM vì vậy mà nó chứa đựng nhiều rủi ro đòi hỏi các NHTM phải đặc biệt chú ý đến công tác phòng ngừa và hạn chế. * Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Nhờ hoạt động này mà các giao dịch thánh toán của toàn bộ nền kinh tế được thực hiện thông suốt và thuận lợi. Đồng thời qua hoạt động này, NHTM đã góp phần làm giảm lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế. * Hoạt động khác Ngoài những hoạt động kể trên thì NHTM còn thực hiện góp vốn mua cổ phần, mua bán chứng từ có giá trên thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối và vàng, kinh doanh và dịch vụ bảo hiểm, thực hiện các nghiệp vụ ủy thác và đại lý, cung ứng các dịch vụ bảo quản, cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ và dịch vụ khác có liên quan… Trong tương lai, hoạt động này sẽ ngày càng được khách hàng sử dụng với những tính năng hữu hiệu của nó.
Hoạt động này đã góp phần làm tăng LN cho NHTM đồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của NHTM thể hiện trên số dư có tài khoản tiền gửi của khách hàng. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng * Tín dụng: Được hiểu chung là mối quan hệ cho vay có hoàn trả giữa hai đối tác là người cho vay và người đi vay. Đó là sự dịch chuyển quyền sử 5 dụng vốn tạm thời giữa người đi vay và người cho vay.
Trong quan hệ tín dụng, người vay phải hoàn trả cả gốc và lãi cho người sở hữu vốn sau một thời gian thoả thuận. Quan hệ này được tạo lập dựa trên mức độ tín nhiệm của người đi vay với người cho vay. Theo luật các TCTD năm 2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [3, tr7]. * Rủi ro tín dụng: Nhiều người hiểu rằng đó là rủi ro từ hoạt động tín dụng gây ra.
Theo uỷ ban Basel thuộc NH Thanh toán quốc tế thì: “Rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một NH là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả nợ và lãi”. [18, tr8] Theo thông tư số 02/2013/TT-NHNN ban hành ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc NHNN: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động NH là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh NH nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Một là, RRTD mang tính chất gián tiếp.
Đặc điểm này có thể hiểu đó là do trong thực tế, khi NH đã giải ngân vốn cho khách hàng thì những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng vay nhưng vẫn nằm trong thời hạn cho vay nên hệ quả của nó ảnh hưởng tới cả NH. Hơn nữa, nhiều trường hợp NH không biết đầy đủ và chính xác những khó khăn, những thật bại mà khách hàng có thể gây ra cho NH trong quá trình vay vốn. 6 Hai là, RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp. Đây là đặc điểm tất yếu của RRTD do đặc trưng NH là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ.
Đặc điểm này cũng là hệ quả của đặc điểm thứ nhất vì mối liên hệ gián tiếp với RRTD khiến sự đa dạng và phức tạp của RRTD NH càng thể hiện rõ hơn. Ba là, RRTD mang tính tất yếu. Hoạt động tín dụng mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM nên RRTD càng cao. Việc trao quyền sử dụng vốn cho khách hàng bản thân nó đã luôn tiềm ẩn những rủi ro.
Vì vập, chấp nhận rủi ro là tất yếu trong hoạt động của NHTM. Việc NH chấp nhận rủi ro và tiếp tục tham gia hoạt động cấp tín dụng là do các NH đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro và lợi ích, và tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Nếu như mức rủi ro là hợp lý, NH có thể gánh chịu và kiểm soát được thì khoản cho vay đó sẽ được NH chấp nhận thực hiện. Tác động của rủi ro tín dụng * Đối với ngân hàng Thu nhập của NHTM sẽ bị giảm đi nếu RRTD xảy ra.
Lúc bình thường, NHTM tiến hành cho vay và thu lãi vay. Nhưng khi RRTD phát sinh, khách hàng không có khả năng thanh toán dẫn đến thu nhập từ lãi vay của NHTM bị ảnh hưởng. Có thể không thu hồi được hoặc thu hòi ít hơn quy định hoặc cũng có thể thu hồi được nhưng sẽ mất nhiều thời gian công sức. Không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết mà vẫn phải trả lãi cho nguồn huy động, chi phí quản lý nên dẫn tới thu nhập của NHTM bị giảm.
Mặt khác, nếu nợ quá hạn chuyển thành nợ khó đòi hoặc không thu được thì việc xử lý TSBĐ gặp rất nhiều khó khăn về pháp lý và NH sẽ lại phải mất chi phí để phát mại TSBĐ đó. Cùng với đó, khi RRTD phát sinh sẽ làm giảm khả năng thanh toán của NHTM. Khi nợ cho vay không thu hồi được theo dự tính sẽ làm giảm nguồn vốn của NHTM. Nếu phát sinh trường hợp khách hàng gửi tiền tới rút với số lượng lớn thì NHTM sẽ bị giảm khả năng thanh toán.
Khi đó NHTM buộc 7 phải đi vay thị trường liên NH với chi phí cao vì nếu chờ huy động tiền gửi của người dân thì cũng sẽ mất nhiều thời gian. Nếu tình trạng này kéo dài, NHTM có nguy cơ phá sản [1, tr9]. Một tác hại không thể tránh được mà RRTD gây ra cho NHTM đó là làm giảm uy tín và năng lực cạnh tranh của NH. Khi NH mất khả năng thanh toán, phải đi vay từ nhiều nguồn vốn, uy tín của NH trên thị trường tài chính sẽ giảm nghiêm trọng.
Khách hàng sẽ không tới gửi tiền vì tâm lý lo sợ, e ngại NH đó không đủ khả năng thanh toán khi NH tới rút tiền. Điều này làm cho NH mất sức mạnh cạnh tranh với các đối thủ, năng lực tài chính của NH ngày một suy giảm. * Đối với nền kinh tế Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực NH không chỉ liên quan đến một mà là tất cả các lĩnh vực, các ngành, các thành phần kinh tế trong xã hội. Vì vậy, khi RRTD xảy ra và trường hợp xấu nhất là dẫn đến phá sản thì sẽ gây lên tâm lý hoang mang khiến người gửi tiền ồ ạt đến rút tiền gửi tại các NH.
Ngân hàng phá sản ảnh hưởng đến tình hình SXKD của các DN và các tầng lớp dân cư. Các DN không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định [8, tr11]. Quản trị rủi ro tín dụng 1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng Trước khi tìm hiểu QTRRTD là gì thì ta cần phải hiểu quản trị rủi ro là gì? Các nhà kinh tế cho rằng, quản trị rủi ro là quá trình xác định các rủi ro và tìm cách quản lý, hạn chế các rủi ro đó xảy ra với tổ chức.