CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG 1.1 Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng a. Tầm quan trọng của quản trị quan hệ khách hàng Theo Peter Drucker “Mục đích của một đơn vị kinh doanh là tạo ra KH”. Giữ KH và tăng cường quan hệ với họ phải trở thành định hướng chiến lược của các doanh nghiệp. Việc giữ KH trung thành trở nên quan trọng vì giữ KH cũ tốn chi phí ít hơn tạo ra KH mới.
Theo một nghiên cứu của trường kinh doanh Harvard: chi phí để tạo ra một KH mới thường lớn gấp 5 đến 10 lần chi phí để duy trì một KH đã có. Điều này khiến các doanh nghiệp phải trân trọng những cái gì đã có, thúc đẩy các doanh nghiệp tối đa hóa mối quan hệ KH hiện hữu. Thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt, để tồn tại và phát triển bền vững thì các doanh nghiệp phải xác định cần làm gì về CRM và cần đầu tư chi phí bao nhiêu để KH không bỏ đi. CRM chính là toàn bộ các hoạt động kinh doanh nhằm tạo lập và duy trì mối quan hệ dài hạn giữa doanh nghiệp với các KH nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
CRM phải tạo được lợi thế cạnh tranh khác biệt cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp theo đuổi triết lý kinh doanh hướng tới xây dựng quan hệ người mua - người bán dài hạn nhờ hiểu biết và đáp ứng nhu cầu KH tốt hơn các đối thủ cạnh tranh. Quản trị kinh doanh hiện đại thực chất là quản trị quá trình gia tăng giá trị cho sản phẩm và dịch vụ theo hướng phát triển, duy trì và tăng cường quan hệ với KH. Các doanh nghiệp coi việc bán được hàng không phải là kết thúc quá trình kinh doanh mà là bắt đầu của quá trình kinh doanh.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng Luan van 7 CRM là viết tắt của Customer Relationship Management - Quản trị quan hệ khách hàng. Đó là chiến lược của các công ty trong việc phát triển quan hệ gắn bó với KH qua nghiên cứu, tìm hiểu kỹ nhu cầu và thói quen của họ. Thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với KH có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự thành công của mỗi công ty nên đây là vấn đề hết sức được chú trọng. Cách hiểu đúng nhất đối với CRM là: Đó là toàn bộ các quy trình thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin về KH, hàng bán, hiệu quả của các công tác tiếp thị, khả nǎng thích nghi của công ty đối với các xu hướng của thị trường nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mang lại lợi nhuận cao nhất cho công ty (1).
Do các khía cạnh quan tâm khác nhau nên quan niệm về CRM không thống nhất. Hiện nay đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về CRM và phạm vi bao quát cũng như các hoạt động của nó. Đồng thời cũng có hàng nghìn loại sản phẩm phần mềm CRM do các công ty khác nhau cung cấp cho KH. Nhìn chung, các khái niệm về CRM được xác định theo 3 quan điểm: (1) Nhấn mạnh yếu tố công nghệ (2) Nhấn mạnh đến quy trình kinh doanh hay bán hàng (3) Coi CRM chính là chiến lược kinh doanh Quan điểm coi CRM như một giải pháp công nghệ: Theo quan điểm này, CRM là một hệ thống thông tin được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau cùng với những phương pháp phân tích để đưa ra những báo cáo, bảng biểu giúp doanh nghiệp có một bức tranh tổng thể về KH, thị trường và những vấn đề cần quan tâm khác trong kinh doanh.
Quan điểm thứ hai cho rằng CRM như là năng lực của doanh nghiệp trong tiếp cận và/hoặc thực hiện trao đổi mua bán với KH thông qua xây dựng và thực hiện quy trình bán hàng. Trên quan điểm này, CRM được hiểu như là (1) trang 92, Quản trị quan hệ khách hàng, PGS.TS Trương Đình Chiến, 2009, NXB Phụ nữ Luan van 8 một quy trình bán hàng nằm trong hệ thống quản lý chất lượng. Với các doanh nghiệp thương mại thì đây là quy trình trung tâm của cả hệ thống quản lý. Việc triển khai hệ thống CRM trong doanh nghiệp sẽ tập trung vào một số bộ phận quản lý tiếp xúc với KH như: Marketing, bán hàng, kế hoạch.
Quan điểm thứ ba coi CRM như chiến lược kinh doanh là quan điểm toàn diện nhất. Theo quan điểm này, CRM là một chiến lược kinh doanh nhằm tối ưu hoá lợi nhuận, doanh thu và sự hài lòng của KH (định nghĩa của Gartner 2005); là một chiến lược tổng hợp với định hướng khách hàng nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Với quan điểm này, CRM thường được cấp lãnh đạo cao nhất của các doanh nghiệp quan tâm. Vì thế, mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về CRM, và cho đến giờ thì các nhà quản trị, các nhà nghiên cứu thị trường vẫn còn tranh cãi về khái niệm chính xác của “quản trị quan hệ khách hàng”.
Tuy nhiên, để khái quát hoá và tiếp cận đúng theo bản chất của khái niệm về CRM, nếu CRM được hiểu như là một chiến lược kinh doanh thì CRM “là tập hợp các hoạt động mang tính chiến lược nhằm lựa chọn, thiết lập, duy trì và phát triển các mối quan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa doanh nghiệp và khách hàng trên cơ sở làm thích ứng các quá trình tạo ra lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp”. Với quan điểm tiếp cận như vậy tác giả lấy định nghĩa của Gartner (2005) làm cơ sở cho luận văn của mình. Lý luận về CRM vẫn đang được xây dựng và hoàn chỉnh nhưng có thể khẳng định rằng CRM theo nghĩa rộng phải là một chiến lược kinh doanh định hướng theo KH và CRM không thể chỉ là dịch vụ KH hay công nghệ phần mềm để quản lý hồ sơ KH thuần tuý như nhiều người quan niệm. CRM phải mang lại lợi ích cho cả hai bên: doanh nghiệp và KH, trên cơ sở thích ứng được quá trình tạo ra lợi ích cho KH, qua đó tạo ra lợi ích cho doanh Luan van 9 nghiệp.
Do đó, CRM đối với doanh nghiệp cần được coi là một quy trình liên kết tất cả các hoạt động marketing, bán hàng và dịch vụ KH để thoả mãn KH. CRM là sự triển khai của chiến lược kinh doanh lấy KH làm trung tâm, chiến lược này làm thay đổi các chức năng hoạt động, các luồng công việc, quy trình làm việc của doanh nghiệp theo định hướng KH. CRM theo mô hình KH là trung tâm yêu cầu một cơ sở dữ liệu duy nhất của KH cho mọi nghiệp vụ kinh doanh và mô hình tổng thể (Sơ đồ 1.1 Kiến trúc CRM tổng thể (Nguồn: crmvietnam.2 Mục đích của CRM Với chương trình CRM có hiệu quả, các doanh nghiệp có thể: Kiếm được những khách hàng sinh lời Nắm giữ những khách hàng sinh lời Lấy lại những khách hàng sinh lời Bán những sản phẩm bổ sung trong cùng một giải pháp Bán những sản phẩm khác cho khách hàng Giảm chi phí hoạt động và phục vụ khách hàng 1.3 Các yếu tố cơ bản trong hệ thống CRM CRM là sự kết hợp của cả ba yếu tố chủ yếu: con người, quy trình và công nghệ, bất kỳ một tổ chức nào muốn xây dựng thành công hệ thống CRM thì cần quan tâm đầy đủ cả ba yếu tố trên.2 Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản trong hệ thống CRM (Nguồn: Quản lý quan hệ khách hàng, MC Graw - Hill, 2002) Yếu tố con người: Để có thể thiết lập và thực hiện hệ thống CRM một cách thành công, các thành viên trong doanh nghiệp trước hết cần phải quán triệt tư tưởng lấy KH làm trung tâm của mọi hoạt động từ quá trình ra quyết định, thiết lập hệ thống, cung cấp sản phẩm dịch vụ, cuối cùng là để đạt được mục tiêu CRM. Yếu tố con người trong CRM đề cập đến vai trò lãnh đạo của tổ chức trong việc định hướng chiến lược kinh doanh, thiết lập các mục tiêu và cung cấp các nguồn lực thực hiện.
Đào tạo người lao động và đặc biệt là kiến tạo văn hoá định hướng KH trong tổ chức. Đồng thời đề cập đến vai trò và trách nhiệm của mọi thành viên trong quá trình cung cấp sản phẩm và dịch vụ để thoả mãn yêu cầu và mong muốn của KH. Yếu tố quy trình: CRM được tiếp cận một cách hệ thống bao gồm các quy trình mà đầu vào là các yêu cầu của KH và đầu ra là sự thỏa mãn của KH. Nguyên lý giải pháp CRM là mọi hoạt động của công ty phải phù hợp với yêu cầu của KH.
Như vậy chúng ta có thể hình dung hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thành hai khối lớn: khối kinh doanh trực tiếp tiếp xúc với KH, thường bao gồm các quy trình: tiếp thị KH, bán hàng, dịch vụ KH, CSKH, bảo dưỡng, hỗ trợ KH. Khối thứ hai là khối quản lý thông thường bao gồm các quy trình: thiết kế, sản xuất, mua hàng, kiểm tra, nhân sự, đào tạo,. Luan van 11 * Văn hóa doanh nghiệp hướng về KH: Văn hóa doanh nghiệp chính là tài sản vô hình. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp là một việc làm hết sức cần thiết nhưng cũng không ít khó khăn.
Trong hoạt động CRM phải hướng tới xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên nền tảng lợi ích của doanh nghiệp đặt trên lợi ích cá nhân. Yếu tố văn hóa doanh nghiệp thể hiện rõ trong hành vi giao tiếp của nhân viên trong doanh nghiệp, trong hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp, từ mẫu mã, kiểu dáng đến nội dung và chất lượng. Chính vì vậy, có thể nói thành công hay thất bại của các doanh nghiệp đều gắn với việc có hay không có yếu tố văn hóa doanh nghiệp. Yếu tố công nghệ: Công nghệ được coi là tác nhân quan trọng trong việc triển khai chiến lược quan hệ KH.
Dựa trên các phần mềm máy tính, thông tin và dữ liệu KH sẽ được thu thập, lưu trữ, cập nhật và khai thác phục vụ cho công tác tìm hiểu và phân loại KH, từ đó hỗ trợ cho quá trình ra quyết định và thiết lập chương trình CRM. Thông thường, công nghệ hỗ trợ CRM bao gồm hệ thống mạng nội bộ (LAN), phần mềm hỗ trợ chia sẻ và quản lý thông tin KH trong tổ chức, công nghệ hỗ trợ cập nhật cơ sở dữ liệu KH, mạng Internet.