CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE QUAN TRI RUI RO TIN DUNG 1,1. RỦI RO TÍN DỤNG 1. Khái lệm Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về RRTD ngân hàng, cụ thể như: Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì rủi ro tin dụng được hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự. giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay.
[I5] Anthony Saunders (2007) dinh nghia: “Ruii ro tin dung là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luỗng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.Koch (2006) thi “Riii ro tin dung là sự thay đổi tiêm ẩn của thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. [L7] ‘Theo khoan 1 Diu 3 Théng tw sé 02/2013/TT-NHNN: “Rui ro tin dung trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xáy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hang không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. 'Vậy RRTD là những thiệt hại kinh tế mà ngân hàng phải gánh chịu do khách hàng vay vốn sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ lãi hoặc không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng do các nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan. Rủi ro tín dụng gây tồn thất về tài chính cho ngân hàng, đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá thị trường của vốn, trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thé dẫn đến phá sản 1.
Phân loại rủi ro tín dụng [14] Có nhiều tiêu chí để phân loại rủi ro tín dụng, sử dụng tiêu chí nào là phụ thuộc vào mục đích, yêu cầu của người nghiên cứu. Nếu căn cứ vào. nguyên nhân phát sinh rúi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành 02 loại: Rui ro tin dung Rủi ro Rủi ro giao dịch danh mục. Rủi ro lựa || Ruiro Rủi ro Rủi ro nội || Rui ro tập chọn bảo đảm || nghiệp vụ tại trung.
Phân loại rủi ro tín dụng ~ Rải ro giao dich : là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn : là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro bảo đảm : phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ : là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. ~ Rãi ro danh mục : là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang. tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.
Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn + Rui ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Ngoài tiêu chí nguyên nhân phát sinh rủi ro, người ta còn phân loại theo các tiêu chí khác như phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân phát sinh rủi ro; phân loại theo cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay. Đặc điểm của rủi ro tín dụng. Cho vay ĐTPT là một trong những loại hình cho vay của các ngân hàng, do đó, rủi ro trong cho vay DTPT cua NHPT cũng mang những đặc trưng của rủi ro cho vay nói chung, ~ Một là, rùi ro tín dụng mang tính tắt yếu Rủi ro luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động cho vay của ngân hàng.
Do NHPT không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay của khách hàng, nên bắt kỳ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro (người vay hoàn toàn không thể trả nợ; người vay trả nợ không day du; người vay trả nợ không đúng hạn.) “Xuất phát từ đặc điểm này, trong cho vay ĐTPT, NHPT phải chủ động áp dụng các biện pháp thích hợp để xử lý vấn đề thông tin không cân xứng nhằm đối phó với rủi ro, đo lường rủi ro và xác định giá khoản vay phù hợp. = Hai là, rùi ro tín dụng mang tính gián tiếp Cho vay ĐTPT thực chất là việc NHPT chuyền giao quyển sử dụng vốn cho khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định để đầu tư vào các dự án DIPT, do đó rủi ro của hoạt động cho vay ĐTPT xây ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng. Biểu hiện của đặc điểm này trong thực tế là ngân hàng thường biết sau, biết không đầy đủ hoặc không chính xác về những khó khăn, thất bại trong quá trình đầu tư và vận hành dự án của khách hàng. Xuất phát từ đặc điểm này, trong QTRR, NHPT phải tập trung nghiên cứu thông tin về khách hàng và phải thường xuyên bám sát hoạt động của khách hàng để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của rủi ro.
~ Ba là, rùi ro tín dụng có tính đa dạng và phức tạp Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp của nguồn gốc phát sinh rủi ro, loại hình rủi ro cũng như những hậu quả do rủi ro gây ra Xuất phát từ đặc điểm này, trong cho vay ĐTPT, các biện pháp QTRR. mà NHPT áp dụng phải mang tính đồng bộ, nghĩa là ~ Bất kỳ dấu hiệu nào có thê làm phát sinh rủi ro cũng phải được phát hiện và nhận biết kịp thời. ~ Các giải pháp đưa ra phải hướng tới quản lý toàn bộ các rủi ro, không bỏ sót loại rủi ro nào. - Việc XLRR chỉ tập trung vào các hậu quả của rủi ro; nhưng việc phòng ngừa rủi ro phải bắt nguồn từ các nguyên nhân của rủi ro.
Những chỉ tiêu phản ánh rủi ro tin dụng Cũng giống như các chỉ tiêu phản ánh RRTD của NHTM, người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây để phản ánh RRTD của NHPT: + No quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn. Nợ quá hạn (NQH) là khoản nợ mà khách hàng không trả được một phần hoặc toàn bộ gốc và/hoặc lãi khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp. Khi một món nợ không trả được vào kỳ hạn nợ, toàn bộ nợ gốc. còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn phản ánh chỉ số tương đối giữa dư nợ mà ngân hàng không thu hồi được đúng. thời hạn như đã cam kết trong các hợp đồng tín dụng và tổng dư nợ mà ngân hàng đã cho vay. Tỷ lệ nợ quá hạn được xác định như sau Tỷ lệ nợ quá hạn = Dự nợ quá hạn x 100% Tong dung Khi chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn tăng, RRTD của ngân hàng cũng gia tăng, ** Nợ khó đôi và tỷ lệ nợ khó đồi: Nợ khó đòi là khoản nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như. quá một kỳ gia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không, bán được, con nợ thua lỗ triỀn miên, phá sản.
Tỷ lệ nợ khó đòi là chỉ số tương đối giữa nợ khó đòi trên tổng dư nợ của ngân hàng. Tỷ lệ nợ khó đòi được xác định theo công thức: Dư nợ khó đòi Tỷ lệ nợ khó đòi x— 100% Tong dư nợ. Nợ khó đồi và tỷ lệ nợ khó đồi là một chỉ tiêu quan trong phản ánh RRTD mà các ngân hàng đặc biệt quan tâm. Nợ khó đòi là một lời cảnh báo cho ngân hàng vì hi vọng thu lại tiền vay trở nên mong manh, ngân hàng cần phải có các biện pháp hữu hiệu đề giải quyết.
i + Ty lé due phong rủi ro tín dung: TY lệ dự phòng Dự phòng rủi ro tín dụng riirotindyng = TổNgMNg — ức Tỷ lệ này phản ánh số dư quỹ dự phòng rủi ro (DPRR) mà ngân hàng trích lập so với tổng dư nợ của ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc lập quỹ dự phòng RRTD hàng năm. Việc trích lập DPRR dựa trên kết quả phân loại dư nợ của ngân hàng thành các nhóm nợ khác nhau. Do vậy, khi chỉ tiêu này cao cũng thể hiện danh mục tín dụng của ngân hàng có nhiễu khoản cho vay cần chú ý.
#* Tỷ lệ nợ xoá trong năm: Tỷ lệ nợ xóa Nợ xóa trong năm ¥ = x 10% trong nam Tông dư nợ. Các khoản cho vay được xoá nợ là những khoản cho vay được ngân hàng tuyên bố là không còn giá trị và được xoá khỏi số sách. Tỷ lệ này phản ánh tôn that thực tế của ngân hang vi đây là những khoản nợ mà ngân hàng sẽ bị mắt vốn vì không còn khả năng thu hồi. Do vậy, nếu chỉ tiêu này tăng thì 'RRTD của ngân hàng là rất lớn.
** Điểm của khách hang: Thông qua phân tích tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án, mối quan hệ và uy tín của khách hàng. ngân hàng lập hồ sơ. về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Khách hàng loại A hoặc điểm cao, RRTD thấp, khách hàng loại C hoặc điểm thấp, RRTD cao.
Chỉ tiêu này được xây dựng dựa trên các dấu hiệu rủi ro mà ngân hàng xây dựng. Điểm của khách hàng cho thấy rủi ro “tiềm ân”.