Chương 1: Dat van dé - Mục tiêu nghiên cứu. - Phạm vi và đóng góp của nghiên cứu. - Định nghĩa, khái niệm liên quan đền vân dé nghiên cứu Chương 2: Tổng quan - Lược khảo các nghiên cứu trước đây - Qui trình nghiên cứu. Chương 3: Phương - Phương pháp xây dựng mô hình.
pháp nghiên cứu - Phương pháp tiến hành mô phỏng sự kiện rời rac. - Công cụ nghiên cứu. Chương 4: Các nhân tố - Thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất lao động ảnh hưởng đến năng của công tác cofa nhôm Vách, Cột- Dam — San. suất lao động của công - Dé xuât giải pháp nang cao năng suât tác cofa nhôm Chương 5: Xây dựng Trình bày các kết quả cụ thể của nghiên cứu, bao gồm: mô hình mô phỏng - Thu thập số liệu, dựng mô hình công tác lap dựng cofa nhôm - Các phương án cho mô hình; cải tiên mô hình.
- Kết luận về các kết quả đạt được; Chương 6: Kết luận và kiến nghị - Hạn chế của nghiên cứu và khuyến nghị những hướng nghiên cứu tiếp theo. HVTH: PHAN TRỌNG LỄ MSHV: 1570099 Luận văn Cao học GVHD: PGS. Lương Đức Long Chương 2. Tóm tắt chương Nội dung chương nay trình bay lý thuyết về năng suất lao động, nâng cao năng suất lao dong, về mô phỏng sự kiện rời rạc.cũng như lợi ích của sử dụng mô phỏng trong việc nâng cao năng suất lao động.
Bên cạnh đó, cũng giới thiệu tổng quan các nghiên cứu liên quan làm cơ sở cho việc phân tích, xử lý dữ liệu trong luận văn. nan = + Năng suất lao động ) © tế + M6 phong ) = Cac định nghĩa, khái niệm liên O quan đến van đề nghiên cứu V4 Me Stroboscope ) “Z. = H+ Sự cân thiết của mô phỏng ) ® Lược khảo các nghiên cứu về mô 3 phỏng trước đây = 4 Lợi ich của việc mô phỏng ) = © VY Hình 2. Sơ đô tóm tắt chương 2 2.
Các định nghĩa, khái niệm liên quan đến vẫn đề nghiên cứu 2. Năng suất lao động 2. Định nghĩa năng suất lao động Năng suất Theo quan niệm truyén thông: khái niệm năng suât được hiệu khá đơn giản là môi tương quan giữa dau ra và dau vào. Nêu dau ra lớn hơn đạt được từ một lượng đâu vào giông nhau hoặc với dau ra giông nhau từ một đâu vào nhỏ hơn thì có thê nói rang năng suât cao hơn.
HVTH: PHAN TRỌNG LỄ -7- MSHV: 1570099 Luận văn Cao học GVHD: PGS. Lương Đức Long Theo Từ điển Oxford “năng suất là tính hiệu qua của hoạt động san xuất được do bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được su dụng dé tạo ra no” Theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ) “ndng suất là đầu ra trên một đơn vị dau vào được sử dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả cua các bộ phận vốn, lao động. Can thiết phải do năng suất bằng dau ra thực tế, nhưng rất it khi tách riêng biệt được năng suát của nguôn von và lao động” Như vậy, tuy có nhiêu quan niệm khác nhau vê năng suât nhưng tat cả các quan niệm đó điêu đó dựa trên một cách chung nhat: “Năng suát là ty so giữa dau ra và những dau vào được su dung dé tạo ra dau ra do” Sức lao động: “La năng lực lao động của con người.
La toàn bộ những nang lực thé chất và tinh thần ton tại trong cơ thé con người. Sức lao động là yếu tố tích cực nhất, hoạt động nhất trong qua trình lao động, nó phát ra và đưa các tư liệu lao động vào hoạt động dé tao ra sản pham” Năng suat lao động là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả. “Năng suát lao động là hiệu qua cua hoạt động có ích của con người trong mot don vị thoi gian, no được biéu hiện băng sô lượng sản phám san xuát ra trong một don vị thời gian hoặc hao phí dé sản xuát ra được một sản pham” Theo Wikipedia, năng suất lao động là một thuật ngữ dé ám chỉ mức độ hiệu qua của việc su dụng lao động. Theo Tổ chức Hop tác va Phát triển Kinh tế, năng suất lao động là /ÿ lệ giữa đấu ra và đấu vào.
Nêu đầu ra là tong giá trị quốc nội hoặc tổng giá trị gia tăng thì đầu vào lại là giờ công lao động, lực lương lao động và số lượng lao động đang làm việc. Theo Bộ thương mại Mỹ, năng suất lao động là giá trị bằng tiền của dau ra trên số giờ công của đầu vào lao động. Năng suất lao động là tỷ số giữa giá trị tài nguyên đầu vào (input) và giá trị sản phẩm đầu ra (output). Tùy vào điều kiện áp dụng, cách do lường đầu vào và đầu ra sẽ khác nhau.
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải. Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng nhất thé hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tô chức, một đơn vị sản xuất hay của một phương thức lao động. HVTH: PHAN TRỌNG LỄ -8- MSHV: 1570099 Luận văn Cao học GVHD: PGS. Lương Đức Long Thomas and Mathews (1986) (trích dẫn bởi Park, 2005) đã phát biểu rằng không có một định nghĩa năng suất chuẩn nao được công bồ trong xây dựng.
Rất khó dé định nghĩa năng suất tiêu chuẩn bởi vì các công ty thường sử dụng hệ thống riêng của họ. Hai hình thức biểu diễn của năng suất thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây là: ^ output | productivity (1) ductivity = input 2 ductivity = input (2) productivity output Dang thứ hai được su dung rộng rãi va đã co trong tài liệu của ngành xây dung. input _ actual work hours Labor productivity = output installed quantity (2.1) Như thé hiện trong phương trình trên, năng suất lao động được đo trong bang sé giờ làm việc thực tế theo mỗi số lượng lắp đặt: đó là, số lượng giờ làm việc thực tế cần thiết để thực hiện các đơn vị thích hợp công việc và như đã nói, khi được xác định theo cách này, các giá trị năng suất thấp hơn cho thấy hiệu suất tốt hơn. Mặc dù có nhiều nghiên cứu về năng suất xây dựng, nhưng vẫn chưa có sự thông nhất về một hệ thống đo lường năng suất tiêu chuẩn.
Các nhà nghiên cứu đã kết luận rang rất khó khăn dé có được một phương pháp tiêu chuẩn dé do lường năng suất lao động trong xây dựng vì sự phức tạp của dự án và những đặc điểm độc đáo của dự án xây dựng (Oglesby et al. 1989 trích dẫn bởi Park, 2005) Theo Thomas ves (1990), năng suất có các định nghĩa khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu: - Trong mô hình Kinh tế: sử dụng một trong các định nghĩa sau đây: > Output Total factor productivity = Labor + Materials + Equipment + Energy + Capital (2.2a) Dollars of output Total factor productivity (TFP) = (2.2b) Dollars of input HVTH: PHAN TRONG LE -9- MSHV: 1570099 Luận văn Cao học GVHD: PGS. Lương Đức Long Mô hình với đầu vào va dau ra đều được đo bang tiền, phù hợp với nền kinh tế nhưng không phi hợp với ngành xây dựng. Nó có thé không được đánh giá cao nếu áp dụng vào một dự án cụ thể hoặc một công trường nào đó bởi sự khó khăn củ việc dự đoán các yếu tố đầu vào khác nhau (Thomas et al, 1990) Những cơ quan khác nhau thì có thé thay đôi công thức 2.2 bằng cách thêm chi phí bảo trì, hay xoá chỉ phí năng lượng hoặc vốn.
Đầu ra được biểu diễn theo đơn vị phù hop. Ví du: Federal Highway Administration sử dụng công thức sau: > Output Productivity = - - - - (2.3a) Design + Inspection + Construction + Right - of - way _ Lane mile Productivify==——————— mauamaw Dollars ' 2.3b) - Trong mô hình dự án xây dựng cụ thé: Productivity = Quip ut (2.4a) Labor + Equipment + Material Productivity = Squate feet (2.4b) Dollars - Mô hình trên công trường xây dung: Nhà thâu có thê xác định năng suât băng cách sử dụng một hình thức khác của công thức trên, khi mà các don vi sản lượng dau ra được xác định cho các loại công việc chung. Don vi điên hình là tan, và mét vuông. Những hoạt động trên công trường, chăng hạn như ván khuôn, thép gia cường, bê tông có thể được kết hợp lại bang cách sử dụng khái niệm giá tri đạt được (Thomas va Kramer, 1987.
trích dẫn bở Thomas, 1990). Nang suất được thé hiện theo các đơn vi sản lượng cho môi đông tiên hoặc giờ làm việc. Tại công trường, nhà thầu thường quan tâm đến năng suất lao động. Nó có thé được quy định tai một trong những cách sau day (Thomas va Mathews, 1986): ` Output 4 Labor Productivity = ⁄ Labor cost (2.5 ` Output abor Productivity Labor Productivity = Work hours (2.6 Một số nhà thầu thường sử dung nghịch đảo của công thức 2.6: HV1H: PHAN TRONG LE -1U- MSHV: 15/UU39 Luận văn Cao học GVHD: PGS.
Lương Đức Long Labor Productivity = Labor cost and Work - hours (2.7) Output Công thứ (2.7) thường được gọi là ty lệ don vi hay thường được gọi là định mức hoặc hao phí lao động. Tuy nhiên, một số Nhà thầu khác lại dựa trên yếu tố hiệu suất như là một thước đo năng suat: Estimated unit rate Performance factor = (2.8) Actual unit rate Cac thuật ngữ khác, ví du như Hiệu quả, thường được su dung đồng nghĩa với năng suất lao động. Tuy nhiên dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đối với các Nhà thầu, cái mà họ quan tâm nhat là sô giờ công lao động. - Định nghĩa nghiên cứu: Quan điểm của các nhà nghiên cứu thì khác với Nhà thầu.
Vi dụ, trong giờ làm việc thì có thời gian việc hiệu quả, thời gian làm việc không hiệu quả và thời gian không làm việc gì cả. Quan điểm này dẫn đến định nghĩa khác về năng suất dựa trên giờ làm việc qui định và giờ làm việc hiệu quả. Như đã thấy, năng suất lao động được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Dé tránh nhằm lẫn, va cũng can phải biết là làm thé nào để xác định năng suất lao động.
Trong phạm vi của luận văn, với mục tiêu đánh gia về năng suất lao động của tô, đội cofa tại công trường nên năng suất lao động sẽ được xác định theo công thức (2.6), tức là tỷ số giữa khối lượng theo m? cofa thực hiện và số giờ công lao động. Output “công lao độ 2.6 Labor Productivity = Work hours (m'/cong lao động) ¿9 Khi định nhĩa theo cách nay thì giá trị cao hon sé cho năng suất cao hon so với giá trị thấp hơn. Các phương pháp đo lường năng suất lao động HVTH: PHAN TRỌNG LỄ -11- MSHV: 1570099 Luận văn Cao học GVHD: PGS.