Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CỦA CÔNG CHỨC TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN PHƯỜNG 1. Khái quát chung về công chức Tài chính – Kế toán phường 1. Khái niệm về công chức Tài chính – Kế toán phường 1. Khái niệm công chức Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy bất cứ Nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân.
Công chức là một thuật ngữ được sử dụng và phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, khái niệm công chức đã, đang và sẽ luôn tồn tại cùng với sự ra đời và phát triển của Nhà nước, nhưng quan điểm thế nào là công chức thì còn LV thạc sĩ Quản lý công tồn tại rất nhiều ý kiến khác nhau. Dưới cách hiểu chung: “Công chức là những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan Nhà nước, do ngân sách Nhà nước trả lương”, mỗi nước đều xây dựng cho mình những khái niệm riêng phù hợp với quan niệm về hoạt động công vụ, chế độ chính trị, văn hóa và lịch sử phát triển của họ. Theo từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2003): công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp [52, tr. Ở nước ta, khái niệm công chức cũng đã được quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện.
Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/ SL về “Quy chế công chức”, đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa 14 vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó “những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức”. Thời gian sau đó, đã có nhiều văn bản đề cập đến công chức, công vụ; khái niệm công chức lần lượt được điều chỉnh, bổ sung trong các văn bản pháp luật: Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức nhà nước; Sắc lệnh số 02/SL ngày 09/3/1998 của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003. Tuy nhiên, thuật ngữ “cán bộ” và “công chức” vẫn được dùng chung mà chưa có sự tách bạch về ranh giới để phân biệt thế nào là cán bộ và thế nào là công chức.
Gần đây nhất, trước đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức có hiệu LV thạc sĩ Quản lý công lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Tại khoản 2, Điều 4 của Luật CBCC có quy định“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy 15 định của pháp luật” [30, tr. Như vậy, theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Có thể thấy Luật CBCC năm 2008 đã thay đổi một cách mạnh mẽ, mang tính cụ thể hơn về ý nghĩa nội hàm của thuật ngữ công chức, đã có thể phân biệt một cách rõ ràng hơn vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức.
Từ đó, những người là công chức được pháp luật điều chỉnh cụ thể hơn, tạo thêm nhiều động lực và điều kiện thuận lợi hơn nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức không ngừng phát triển về mọi mặt tạo nên sự chuyên nghiệp trong nền hành chính hiện đại, góp phần nâng cao năng lực đội ngũ công chức mang lại sự hiệu quả cao trong các hoạt động công vụ và xây dựng được bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh. Khái niệm công chức phường LV thạc sĩ Quản lý công Trước năm 2003 thì khái niệm công chức phường (gọi chung là cấp xã) chưa được đề cập đến trong các văn bản pháp luật của Nhà nước cho đến khi pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH, ngày 29/4/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, lần đầu tiên khái niệm công chức phường được quy định tại khoản h, điểm 1, Điều 1 của Pháp lệnh: “.những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã”. Việc điều chỉnh của pháp luật đối với công chức phường là một bước đột phá, là một sự thay đổi về nhận thức có tính căn bản của các cơ quan nhà nước ở nước ta. Khái niệm công chức phường đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật cụ thể như: theo Nghị định 114/2003/ND-CP ngày 10/10/2003 của 16 Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được coi là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay khi đưa ra khái niệm công chức cấp xã một cách rõ ràng nhất. Tại khoản 3, Điều 4 của Luật này quy định “công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [30, tr. Công chức phường là nguồn nhân lực quan trọng trong bộ máy chính quyền cấp sở sở, là những người thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp lắng nghe ý kiến, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của nhân dân cũng chỉ hướng đến mục tiêu chung vì nước, vì dân mà phục vụ; đảm bảo lợi ích chung LV thạc sĩ Quản lý công của đất nước, quyền lợi của nhân dân. Vậy công chức phường là bộ phận hữu cơ của công chức cấp xã.
Công chức phường là những công chức làm công tác chuyên môn thuộc UBND phường có trách nhiệm giúp UBND phường quản lý nhà nước về các lĩnh vực công tác và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND phường giao. Công chức phường gồm có các chức danh sau: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng – Thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường Tài chính – Kế toán; Tư pháp – Hộ tịch; 17 Văn hóa – Xã hội. Mỗi chức danh sẽ được giao cho những nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể góp phần củng cố bộ máy chính quyền cấp cở sở để giải quyết những công việc liên quan trực tiếp trong mối quan hệ với nhân dân. Việc quy định công chức phường trong các văn bản luật có sự tác động rất lớn ảnh hưởng đến hệ thống chính quyền cấp cơ sở, bên cạnh đó còn tạo được động lực và điều kiện thuận lợi nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ công chức phường, không những giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có tư tưởng chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt mà còn phát triển vững mạnh theo hướng chuyên nghiệp trong một nền hành chính hiện đại trong hiện nay, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của công chức trong quá trình thực thi công vụ.
Qua đó, có thể đưa ra khái niệm công chức phường như sau: “Công chức phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên LV thạc sĩ Quản lý công môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân phường, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Tiêu chuẩn, chức năng và nhiệm vụ công chức Tài chính – Kế toán phường Công chức Tài chính – Kế toán là một trong bảy chức danh chuyên môn thuộc UBND phường, có trách nhiệm tham mưu, giúp Chủ tịch UBND phường thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài chính kế toán, quản lý ngân sách trên địa bàn phường. Do vậy, ngoài những trách nhiệm trên công chức Tài chính – Kế toán còn có những tiêu chuẩn, chức năng và nhiệm vụ cụ thể được quy định tại Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn thì quy định về tiêu chuẩn chung của công chức xã, phường, thị trấn và Thông tư số 06/2012/TT- 18 BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. Thứ nhất, tiêu chuẩn đối với công chức Tài chính – Kế toán phường: + Tại Điều 3, Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn thì quy định về tiêu chuẩn chung của công chức xã, phường, thị trấn như sau: - Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; - Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; - Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành LV thạc sĩ Quản lý công nhiệm vụ được giao; am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác.