Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về du lịch. Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong bố i cảnh dich ̣ bê ̣nh Covid-19. Chương 3: Đinh ̣ hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lich ̣ trên đ ịa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong bối cảnh sau dịch bệnh Covid-19. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH 1.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về du lịch Từ giữa thế kỷ XVIII, ở các nước Châu Âu đã bắ t đầ u xu ất hiện các đội nhóm tổ chức cùng nhau đi chơi, thăm bạn bè, qua các quốc gia khác, học ngoại ngữ, văn hóa nghệ thuật, trào lưu này đã phát triển rất mạnh và thúc đẩy khái niệm “du lịch” ra đời. Kể từ thời điể m đó , du lich ̣ bắ t đầ u phát triể n nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế quan tro ̣ng và mang la ̣i nhiề u lơ ̣i ić h cho cả cá nhân và cộng đồng. Tác giả Hienziker và Kraff cho rằng “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”[10].
Ngoài ra, năm 1998, Kodhyat cũng đinh ̣ nghiã du lich ̣ là sự di chuyể n ta ̣m thời đươ ̣c thực hiê ̣n bởi các cá nhân hoă ̣c tâ ̣p thể t ừ nơi này sang nơi khác với n ỗ lực tìm kiếm sự cân bằng và hạnh phúc về mặt xã hội, văn hóa, thiên nhiên và tri thức. Theo Liên Hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of Official Travel Organization): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống”. Năm 1963, hội nghị Liên Hơ ̣p Quố c về Du lịch diễn ra t ại Rome, và các chuyên gia đã thố ng nhấ t đinh ̣ nghiã về du lich ̣ như sau : “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên 8 của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.
Thông qua định nghĩa trong từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966), chúng ta có thể thấy được sự phong phú và đa chiều của khái niệm du lịch. Hai khía cạnh mà định nghĩa này đề cập là mục đích của chuyến đi và khía cạnh kinh tế của du lịch. Từ góc độ mục đích, du lịch không chỉ đơn thuần là việc tham quan và vui chơi mà còn là cơ hội để khám phá và trải nghiệm văn hóa, lịch sử, và thiên nhiên của một địa điểm mới. Điều này giúp tăng cường nhận thức về các giá trị văn hóa và bảo tồn di sản của mỗi quốc gia.
Từ góc độ kinh tế, du lịch không chỉ là một hoạt động giải trí mà còn là một ngành kinh doanh tổng hợp, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo ra việc làm và thu hút đầu tư. Tổng thể, định nghĩa này thể hiện sự đa dạng và sâu sắc của du lịch không chỉ trong phạm vi vui chơi giải trí mà còn trong việc thúc đẩy sự hiểu biết, hòa nhập văn hóa, và phát triển kinh tế. Luật Du lịch số 09/2017/QH XIV do Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19/6/2017 đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên t ục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”[16]. Dựa trên những đinh ̣ nghiã trên, có thể thấy rằng trong những hoàn cảnh, góc độ khác nhau , chúng ta hoàn toàn có thể đưa ra các cách hiểu về du lịch khác nhau.
Tóm lại, có thể diễn đạt rằng du lịch là một biểu hiện kinh tế-xã hội, là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hoặc nhóm người ra khỏi địa điểm cư trú thường trú của họ, nhằm đáp ứng các nhu cầu và mục đích đa dạng. Khái niệm về sản phẩm du lịch Trong quá trin ̀ h nghiên cứu về du lich ̣ , sản phẩm du lịch là một trong những chủ đề gây t ranh caĩ nhiề u nhấ t. Một số người cho rằng sản phẩm du 9 lịch chính là khách du lịch, tức là trải nghiệm và dịch vụ được cung cấp cho du khách. Các trải nghiệm du lịch, dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vui chơi giải trí và các hoạt động du lịch khác được coi là sản phẩm du lịch chủ yếu.
Tuy nhiên, một quan điểm khác cho rằng sản phẩm du lịch không chỉ gồm khách du lịch, mà còn bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn. Có rấ t nhiề u yế u tố trực tiế p và gián tiế p cấ u thành sản phẩ m du l ịch, năm 2017, Luật Du lịch đã đưa ra một khái niệm về sản phẩm du lịch như sau: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch để thoả mãn nhu cầu của khách tham quan”[16]. Tuy nhiên, khái niệm này vẫn chưa đươ ̣c xem là hoàn toàn đầ y đủ. Mô ̣t trong những khái niê ̣m đươ ̣c xem là đầ y đủ và tro ̣n ve ̣n của sản phẩ m du lich ̣ đươ ̣c đinh ̣ nghiã bởi T ổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO): “Sản phẩm du lịch là sự kế t h ợp của các yế u tố vật thể và phi vật thể , chẳ ng hạn như : Hệ thống dịch vụ, quản lý điều hành; Tài nguyên du lịch; Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật”.
Sản phẩm du lịch thường bao gồm các chương trình du lịch và nội dung chủ yếu của nó là sự kết hợp giữa di tích lịch sử, di tích văn hóa, cảnh quan thiên nhiên và các cơ sở vật chất - kỹ thuật như cơ sở lưu trú, ăn uống và vận chuyển. Các sản phẩm du lịch là kết quả của việc kết hợp các yếu tố khác nhau lại với nhau để tạo ra một trải nghiệm du lịch toàn diện cho khách hàng. Ngoài ra, sản phẩm du lịch cũng liên quan đến yếu tố tài nguyên du lịch. Thay vì đưa sản phẩm du lịch đến tay người tiêu dùng, chúng ta chỉ có thể đưa khách hàng đến địa điểm có các sản phẩm du lịch để họ tham quan, khám phá và trải nghiệm, từ đó thỏa mãn nhu cầu du lịch của họ thông qua việc tiêu dùng các dịch vụ và trải nghiệm du lịch.
Khái niệm đaị dich ̣ Covid-19 Dịch COVID-19 bắt đầu vào cuối tháng 12 năm 2019 tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc, khi một nhóm người bị viêm phổi không rõ nguyên nhân. 10 Các trường hợp nghi nhiễm đầu tiên được báo cáo tại Vũ Hán vào ngày 31 tháng 12 năm 2019 và ca tử vong đầu tiên do SARS-CoV-2 xảy ra vào ngày 9 tháng 1 năm 2020. Sự lây lan từ người sang người đã được xác nhận, và tốc độ bùng phát dịch tăng vào giữa tháng 1 năm 2020. Chính phủ Trung Quốc đã quyết định phong tỏa Vũ Hán vào ngày 23 tháng 1 năm 2020.
Các quốc gia trên thế giới đã đáp ứng bằng cách hạn chế di chuyển, thiết lập các biện pháp kiểm soát và phong tỏa, tuyên bố tình trạng khẩn cấp, áp dụng lệnh phong tỏa, thực hiện cách ly xã hội, hủy bỏ các sự kiện đông người, đóng cửa trường học và các doanh nghiệp không cần thiết, khuyến khích người dân thực hiện các biện pháp phòng tránh như đeo khẩu trang và hạn chế ra ngoài không cần thiết, cũng như thúc đẩy hoạt động kinh doanh, học tập và làm việc trực tuyến. Các loại hình du lịch Ngành du l ịch ở Việt Nam đã đạt được nhiều bước phát triển đáng kể trong thời gian gần đây, mang đến những trải nghiệm mới mẻ cho du khách. Tại Việt Nam, các loại hình du lịch có thể được phân loại như sau: - Theo môi trường tài nguyên: + Du lịch thiên nhiên: Bao gồm việc khám phá và trải nghiệm cảnh quan thiên nhiên, các công viên quốc gia, vườn quốc gia, biển, rừng, suối, núi, hang động, hồ nước, v. + Du lịch văn hóa: Tập trung vào việc khám phá và trải nghiệm di sản văn hóa, kiến trúc, đền đài, lễ hội truyền thống, làng cổ, chùa chiền, cung đình, v.
- Theo mục đích chuyến đi: + Du lịch tham quan: Chuyến đi nhằm khám phá, tham quan các địa điểm du lịch nổi tiếng, điểm đến đẹp và có giá trị văn hóa. 11 + Du lịch giải trí: Tập trung vào việc cung cấp các hoạt động giải trí và trải nghiệm như công viên giải trí, khu vui chơi, khu nghỉ dưỡng, sòng bạc, v. + Du lịch nghỉ dưỡng: Đi du lịch nhằm thư giãn, nghỉ ngơi, tận hưởng các dịch vụ và tiện ích tại các khu nghỉ dưỡng, biệt thự, resort, bungalow, v. + Du lịch kinh doanh: Liên quan đến các chuyến công tác, hội nghị, triển lãm, gặp gỡ kinh doanh và các hoạt động liên quan đến mục đích kinh doanh.
- Theo lãnh thổ hoạt động: + Du lịch quốc tế: Du khách đi qua biên giới quốc gia để tham quan, khám phá các quốc gia khác. + Du lịch nội địa: Du khách đi du lịch trong cùng quốc gia. - Theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: + Du lịch biển: Tập trung vào các khu vực ven biển, bãi biển, đảo, vùng duyên hải. + Du lịch núi: Bao gồm việc khám phá các dãy núi, khu vực núi rừng, trekking, leo núi, v.
+ Du lịch đô thị: Liên quan đến việc khám phá và trải nghiệm các thành phố lớn, văn hóa đô thị, kiến trúc đô thị, mua sắm, ẩm thực, v. + Du lịch thôn quê: Tập trung vào việc khám phá và trải nghiệm đời sống, văn hóa, và cảnh quan thiên nhiên ở các vùng nông thôn. - Theo phương tiện giao thông: + Du lịch xe đạp: Du khách sử dụng xe đạp để khám phá và di chuyển trong quá trình du lịch. + Du lịch ô tô: Du khách sử dụng ô tô để di chuyển trong quá trình du lịch.