Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ XÂY DỰNG TIÊU CHÍ LỰA CHỌN DOI TÁC CHIEN LƯỢC TRONG HOP TÁC QUOC TE VE KHOA HỌC VA CÔNG NGHỆ 1. Cac khai niém co ban 1. Hop tac quéc té Trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm hợp tác. Hop tac là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung.
Trong từ điển Webster năm 2000 định nghĩa hợp tác là một hành động hay một việc làm cùng với nhau vì mục đích và lợi ích chung. Ở từ điển khác người ta lại định nghĩa hợp tác là hành cộng của một vài người giúp đỡ bằng việc làm những gì cần thiết và yêu cầu trong nỗ lực chung và hợp tác. Tóm lại hợp tác là mọi người làm việc với nhau dé đạt được những kết quả hoặc mọi người giúp đỡ nhau dé đạt mục tiêu chung. Trong cuộc sông có nhiều loại hình hợp tác như hợp tác về kinh tế, hợp tác về lao động.
HTQT là loại hình hợp tác mở rộng hơn mà nó vượt ra ngoài lãnh thé của quốc gia. Thường người ta hay đề cập tới hợp tác giữa hai nước hoặc nhóm các nước có chung tiếng nói và ý chí hành động. Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), “Hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phan dau dé dat duoc”. Thuc tế cho thay, su tuong tac gitta cac chu thé làm lên quan hệ, không có các chủ thé cùng tham gia thì sẽ không có hợp tác.
Tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), khang định “Chủ thể quan hệ quốc tế là những thực thé đóng một vai trò có thé nhận thấy được trong quan hệ quốc tế”. Trong quan hệ quốc tế, các chủ thê ở đây được chia thành ba loại, bao gồm: chủ thêquốc gia, chủ thể phi quốc gia và chủ thể dưới quốc gia.Năm 1933, Công ước Montevideo đã ra 11 đời và qui định về quyền vànghĩa vụ của quốc gia. Chủ thé quốc gia là chủ thé cơ bản và có vai trò lớn nhất. Chủ thể phi quốc gia là những chủ thé không phải là quốc gia, đây là loại chủ thé có sự độc lập tương đối với quốc gia và có quy mô hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia như: các tổ chức phi chính phủ, công ty đa quốc gia, một số nhóm chính trị - xã hội,.
Chủ thé dưới quốc gia là chủ thé hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia nhưng cũng có sự độc lập tương đối và đóng vai trò nhất định, vi dụ như: chính quyền địa phương, cá nhân. Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, HTQT là một hiện tượng xuyên lịch sử. Nó tồn tại trong giai đoạn lich sử bat chấp thế giới đầy những xung đột và chiến tranh. Cho đến nay, HTQT đã trở thành xu thế lớn trong quan hệ quốc tế và lôi cuốn mọi quốc gia và con người khắp nơi trên thế giới cùng tham gia.
HTQT là một hình thức tương tác trong quan hệ quốc tế. Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hoà bình giữa các chủ thé quan hệ quốc tế, tức là trong đó bạo lực được loại ra. Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực.
Về mặt kết quả, sự hợp tác thường đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác tức là hoặc cùng được, hoặc cùng không thoả mãn,. Theo tác giả Hoàng Khắc Nam (2006), dựa vào các đặc trưng trên có thể đưa ra khái niệm chung cho HTQT như sau: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hoà bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục dich chung”. Hội nhập quốc tế Ngày nay, HNQT đang diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày một gia tăng. Đây là quá trình tìm kiếm lợi ích trong khuôn khổ hợp tác và cạnh tranh.
Trong quá trình đó, bên cạnh những lợi thế có được do mở rộng quan hệ, tiếp thu kinh nghiệm, tìm kiếm đối tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các nước tiên tiến và các tổ chức quốc tế, các nước dang phát triển cũng gặp không ít khó khăn, thách thức 12 về thị trường, vốn, trình độ quản lý, trình độ KH&CN, buộc phải nhanh chóng đổi mới một cách toàn diện cả về phương thức lãnh đạo, quản lý, xây dựng định hướng, chiến lược phát triển KT-XH để rút ngắn khoảng cách phát triển. Nhận thức được tính tất yếu HNQT đối với công cuộc phát triển, hầu hết các quốc gia đều chủ động tích cực mở rộng quan hệ HTQT dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau, tiến tới HNQT sâu rộng. Qua quá trình nghiên cứu, PGS.TS Mai Hà đã đưa ra định nghĩa tổng quát về HNQT như sau: “Hội nhập quốc tế là quá trình phát triển và tích hợp dé trở thành bộ phận cấu thành tích cực của hệ thống quốc tế với thê chế được thống nhất, dam bảo lợi ich lâu dai cho các bên tham gia” [18, tr. Hội nhập quốc tế về KH&CN HNQT về KH&CN là quá trình phát triển KH&CN quốc gia và tích hợp dé trở thành bộ phận cấu thành tích cực của hệ thống KH&CN quốc tế với thé chế được thống nhất, đảm bảo lợi ích lâu dài cho các quốc gia và các cộng đồng khoa học.
Từ những đặc điểm của quá trình HNQT nói chung, HNQT về KH&CN có một số đặc thù sau: Tính tự nguyện (Willingness) trong trường hợp này, thường đi kèm với quá trình HNQT KT-XH, song cũng có những trường hợp HNQT về KH&CN có bước đi trước, độc lập tương đối so với hệ thống KT- XH. Hãy xét trường hợp HNQT của KH&CN Cu Ba, Triều Tiên, lran,. Giải thích điều này, người ta có thé thấy, nghiên cứu khoa học là quá trình đi tìm “cái khách quan”, “tính quy luật” của xã hội và tự nhiên. Do vậy, bản thân quá trình nghiên cứu khoa học đã buộc phải tuân thủ ở mức độ tối đa các luật lệ chung, các chuẩn chung, đó là các phương pháp nghiên cứu, các quá trình thí nghiệm, qui trình công nghệ, các chuẩn do lường, các mẫu điều tra, các chuẩn công bố, chuẩn sản phẩm KH&CN,.
Chính vì vậy, việc KH&CN hội nhập với quốc tế là điều khá tự nhiên. Chỉ có 3 điều khác biệt giữa các quốc gia đó là: (i) chính sách đầu tư tài chính phát triển KH&CN, (ii) phương thức tổ chức mạng lưới các cơ quan 13 nghiên cứu và triển khai, và (ii) chính sách sử dụng nhân lực và kết quả KH&CN; Cạnh tranh bình đăng (Fair competition) trong nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ chủ yếu được dựa trên cơ sở của các hiệp định quốc tế về Sở hữu trí tuệ và nền chung là hệ thống đổi mới quốc gia. Ở đó là sự cạnh tranh bình đăng giữa các trường phái khoa học, các t6 chức khoa học va cá nhân các nha khoa học; Lợi ích bền vững (Sustainable interest) trong HNQT về KH&CN đó chính là quá trình đổi mới, mà trong đó KH&CN đóng vai trò then chốt: Đảm bảo lợi ích bền vững là yếu tố sống còn của HNQT nói chung. Đồng thời đó cũng là mục tiêu để các quốc gia HNQT, cùng hợp tác, cạnh tranh và phát triển.
HNQT nói chung và về KH&CN nói riêng luôn chứa đựng những cơ hội phát triển to lớn cũng như nhiều thách thức đối với các quốc gia đang phát triển [18, tr. Hợp tác quốc tế về KH&CN Khái niệm HTQT về KH&CN là một hình thức quan hệ quốc tế về KH&CN trong đó có sự hợp tác nghiên cứu, trao đôi thành tựu, tiến bộ KH&CN giữa các chủ thé trong quan hệ quốc tế về KH&CN. Nguyên nhân hình thành HTQT vé KH&CN 1a do su khac biét vé năng lực KH&CN của mỗi quốc gia, chi phí cho nghiên cứu KH&CN cũng tốn kém và xu thế quốc tế hoá hoạt động nghiên cứu và triển khai. Hoạt động HTQT về KH&CN diễn ra trên qui mô toàn cầu, diễn ra trong nhiều lĩnh vực dưới nhiều hình thức đa dang, các nước công nghiệp phát triển và các công ty quốc gia đóng vai trò thống trị và chủ đạo.
Đối tác Đối tác là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thé hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung. Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đây quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiễn bộ cũng 14 như chia sẻ những thành tựu hợp tác”. Hành động cùng nhau chung mục tiêu va chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác.
Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đăng, có đi có lại, và thoả thuận về những mục tiêu chung. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và HNQT hiện nay, không quốc gia nào có thể tự mình phát triển nếu không tham gia vào quá trình hội nhập, liên kết, vì những giá trị phát triển chung của nhân loại ngày càng được phô biến, chia sẻ trên toàn cầu. Đặc biệt là về kinh tế, các chuỗi cung ứng giá trị hàng hoá đang hình thành thì không một quốc gia đơn lẻ nào có thé đảm đương được tat cả. Quốc gia nào sớm tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị đó sẽ sớm được hưởng lợi và có đối tác.
Đảng ta luôn khăng định, Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” [1, tr.7], và “Bảo đảm loi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đăng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” [1, tr. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 180 trong 193 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc; có quan hệ thương mại với gần 230 quốc gia và vùng lãnh thé; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; hơn nữa, Việt Nam đã có gần 100 cơ quan đại điện tai các quốc gia và vùng lãnh thé ở các châu lục.