CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LY HOAT DONG TY HOC CUA HQC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ. Khái quát lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Trong lịch sử phát triển của giáo dục, TH là vấn. è luôn được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu về lí luận và thực tiễn.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, vấn đề TH được đẻ cập đến với những góc độ khác nhau. Ngay từ thời cô đại, các nhà sư phạm nôi tiếng như Không Tử, Aristot đã cho. ring: Day và học phải trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức của trò và đòi hỏi học trò phải biết kết hợp với suy nghĩ, biết năng động trong học tập và đã cố gắng. gợi mở để trò TH trong hoạt động học tập.
Socrat (469 - 309 trước công nguyên) đã từng nêu khẩu hiệu: “4nh: ñây tự biết lấy anh” qua đô với mong muốn học trò tự phát hiện ra chân lý bằng cách đặt câu hỏi để dần dần tìm ra kết luận. Từ thế kỹ XVII, các nhà giáo dục như: J. Rousseau (1712 - 1778) trong các công trình nghiên cứu đều rất quan tâm đến sự phát triển tích cực, độc lập, sáng tạo của HS và nhắn mạnh phải khuyến khích học tập để chiếm lĩnh tri thức bằng con đường tự khám. phá, tự suy nghĩ, tự tìm tòi và sáng tạo.Rubakin với tác phẩm “TH như thế nào?” đã đề cập đến việc TH và những đặc tính riêng của từng người, hướng dẫn cách đọc sách mang lại hiệu quả, cách chon sách, nghệ thuật chọn sách 14] J.Komenxki (1592 - 1670), ông tổ của nền sư phạm cận đại đã đưa ra những biện pháp dạy học là phải làm thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ, để tự nắm bắt được bản chất của sự vật hiện tượng.
Trong tác phẩm “Phép giáo dục vĩ đại”, ông đã nêu ra các nguyên tắc, các phương pháp giáo dục nhằm phát huy tính tích cực, tự giác học tập của người học. Đồng thời ông kiên quyết phải đối lối dạy 12 học áp đặt, giáo điều đã làm cho người học thụ động, ÿ lại. Ông viết: “Ban giám. hiệu và thanh tra nhà trường có thể kích thích lòng ham học của HS bằng cách trực.
tiếp tham gia vào các hoạt động chung của lớp, chẳng hạn các buổi luyện tập, ngâm. thơ, thảo luận chuyên đề. Một hình thức nữa là tăng cường khen thưởng” |2]. Trong thế kỷ XX các nhà giáo dục học đã tìm kiếm con đường tích cực hoá hoạt động dạy của thầy và TH của trò.
Trong đó phải kể đến tư tưởng của các nhà. giáo dục học nôi tiếng như: M. Lênin đã từng nhắc nhở chúng ta rằng: Không tự mình chịu khó bỏ ra. một chút công phu nảo đó thì không thé tim ra sự thật trong bắt cứ vấn đề hệ trọng.
nào và hễ ai sợ tồn công sức thì không sao tim ra sự thật được 1. Ở Việt Nam “Truyền thống hiểu học và TH đã được khẳng định qua thành tích học tập của các vị khoa bảng, trạng nguyên ngày xưa như Chu Văn An, Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Nguyễn Hiền,. Các thế hệ cha ông chúng ta đã vươn lên chiếm lĩnh đỉnh cao tri thức thời bấy giờ bằng tỉnh thần và nỗ lực TH. ~ Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh là một tắm gương sáng ngời về TH, học đề đạt được tri thức đúng đắn phụng sự công cuộc đấu tranh cách mạng, vì sự vẻ vang.
của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Tỉnh hoa sự học của Chủ tịch Hồ Chi Minh được thâm thấu và tỏa ra ở cốt cách văn hóa thanh cao, lịch thiệp, trong trí thông minh xuất chúng, ở lỗi ứng xử tinh tế, hắp dẫn. Tất cả nhờ Người luôn ý thức. tự học và thực hành.
Trong tác phẩm “Sửa đôi lề lối làm việc” năm 1947, Người đã dạy: “Cách học tập, phải lấy tự học làm cét” (11, tr. ~ Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn có rất nhỉ: bài đúc kết kinh nghiệm quý báu. về TH trong các công trình nghiên cứu của minh nhu: “Ty hoc - te giáo duc - tw nghiên cứu” [L7]. Năm 1988, tác giá viết cuốn "Quá trình dạy - Tự học "[18] “Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục, tự học” gồm 2 tập.
Đây là những cuốn sách quý giá đúc kết những kinh nghiệm trong công tác TH của HS. ~ Tiến sĩ khoa học Thái Duy Tuyên trong “phương pháp dạy học” cũng đã nêu rõ vấn đề cấp thiết của TH trong giai đoạn hiện nay là tích cực hoá hoạt động. 13 nhận thức của HS và bồi dưỡng kỹ năng tự học cho HS phô thông. ~ Khi phát biểu chỉ đạo đối với ngành giáo dục, nguyên Tổng bí thư ban chấp hành Trung ương Đảng Đỗ Mười đã nhắn mạnh: Tự học - tự đào tạo là con đường phat triển suốt đời của mỗi người trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau; đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam [20].
Có thê thấy rằng TH đã được bàn luận từ lâu và được sự quan tâm của rất nhiều của nhà khoa. học, QLGD nhưng việc nghiên cứu hầu hết tập trung vào vai trò, vị trí, PPTH, điều kiện TH. Van đề quản lý HĐTH gần đây đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu. trong các luận văn thạc sĩ chuyên ngành như: Tác giả Dương Minh Châu (2015) với đề tài: Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động tự học của HS các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Bình Phước.
Tác giả Nguyễn Hoàng Ngọc (2012) với đề tài: Biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động tự học của. HS trung học phô thông tỉnh Thừa Thiên Huế. Cac dé tai nay đã nghiên cứu thử nghiệm cụ thể và đề xuất các biện pháp. quản lý của hiệu trường đối với HĐTH của HS các trường THCS, trung học phổ thông (THPT) một số tỉnh Thừa Thiên Huế và Bình Phước.
Van dé TH của HS và công tác quản lý HĐTH của HS các trường THCS huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị là một vấn đề mới và khó vì từ đặc điểm của HS dân tộc, HS ở vùng chưa được phát triển như các vùng trung tâm khác nên cần phải nghiên cứu một cách bài bản. Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài về quản lý: HĐTH của HS với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả HĐTH của HS các trường THCS huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị nói riêng và HS các trường THCS trên cả nước nói chung trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1.
Quản lý Quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thê thiếu được trong đời sống. xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội phát triển như hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn. Có nhiều cách tiếp cận quản lý khác nhau, ở mỗi 14 cách tiếp cận thường đưa ra những khái niệm khác nhau. Theo quan niệm của Khổng Tử, ông thường để cao vai trò cá nhân của người quản lý: Người quản lý mà chính trực thì không cần phải bỏ tốn nhiều công sức mà vẫn khiến được người ta làm theo.
Hay một ý tưởng mà Karl Marx đã ví tô chức. như một dàn nhạc: “Một nhạc sĩ độc tắu vĩ cằm thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc tướng” [10, tr. Tiếp cận quan điểm hệ thống tác giả Hà Thế Ngữ đã cho rằng: “Quản ly la dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống đề tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thông đó sang một trang thai moi” (13), Nhắn mạnh các chức năng của hoạt động quản lý, tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản jý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lành đạo) và kiểm tra” (1 Theo Từ điển Giáo dục học: “Quán lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản ý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tô chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và. đạt được mục đích của tổ chức” [1] Dựa trên vai trò các nguồn lực trong quản lý, tác giả Trần Kiểm cho rằng.
“Quản lý là những tác động của chủ thể quán lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguôn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tôi chức với hiệu quả cao nhất [§, tr. “Từ các khái niệm trên, ta có thê xác định: Quản jÿ là một quá trình tác động có chủ đích, có kề hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm khai thác, tổ chức và thực hiện có hiệu quả những nguân lực, tiềm năng và cơ hội của tổ chức. để đạt được mục tiêu của tô chức đề ra. Quan lý giáo dục Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, tổn tại lâu dài cùng với xã hội loài người, giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ đi sau và để thế hệ sau có trách.
15 êm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã hội, giáo dục và bản thân con người phát triển không ngừng. Để đạt mục đích đó, QLGD được coi là nhân tố tô chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên. Vậy QLGD là gì? Có nhiều. quan điểm về QLGD: 'Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc và nhóm tác giả quan niém, “QLGD là quá trình đạt tới muc tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [9, tr.16] Dẫn theo tác giả Dương Minh Châu, (Luận văn Thạc sĩ QLGD, Đại học sư phạm Huế năm 2015) Một số tác giả đã đưa ra các khái niệm về QLGD như: Tac giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch kết hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hay tác giả Đặng Quốc Bảo thì cho rằng: QLGD theo nghĩa tông quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đây công tác đảo tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội.