phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc cấp huyện Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc tại huyện Chƣ Sê, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2016-2020 Chƣơng 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc tại huyện Chƣ Sê tỉnh Gia Lai giai đoạn 2021-2025 e 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan về chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc 1. Khái niệm chi thường xuyên ngân sách nhà nước Theo Điều 1 của Luật NSNN năm 2002, khái niệm luật NSNN đƣợc trình bày nhƣ sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những ƣu điểm, khắc phục những tồn tại của Luật NSNN năm 2002, Luật NSNN năm 2015 đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày thi hành từ năm Ngân sách 2017.
Tại khoản 14, Điều 4, Luật NSNN số: 83/2015/QH13 do Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua đã định nghĩa NSNN: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Khái niệm NSNN trong Luật NSNN năm 2015 đã bổ sung đƣợc hai điểm mới so với khái niệm NSNN trong Luật NSNN năm 2002 đó là: toàn bộ các khoản thu, chi phải đƣợc dự toán và thực hiện trong khoản thời gian nhất định. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong quản lý ngân sách địa phƣơng và tất cả nguồn thu, nhiệm vụ chi đều phải ghi vào dự toán, nếu không ghi sẽ không thu vá tất nhiên sẽ không đƣợc chi. Theo luật NSNN năm 2015, Chi thƣờng xuyên của các cơ quan, đơn vị ở địa phƣơng sẽ đƣợc phân cấp trong các lĩnh vực: Chi sự nghiệp giáo dục- e 10 đào tạo và dạy nghề; Chi sự nghiệp khoa học và công nghệ; Chi Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, phần giao địa phƣơng quản lý; Chi sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; Chi sự nghiệp văn hóa thông tin; Chi sự nghiệp phát thanh, truyền hình; Chi sự nghiệp thể dục thể thao; Chi sự nghiệp bảo vệ môi trƣờng và các hoạt động kinh tế; Chi các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nhà nƣớc, tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị xã hội; Chi bảo đảm xã hội và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn thƣờng dƣới một năm, chi thanh toán cá nhân, chi để mua các hàng hoá và dịch vụ không lâu bền, thƣờng mang tính chất lặp đi lặp lại thƣờng xuyên phục vụ các nhu cầu hoạt động thƣờng xuyên của các tổ chức công. Đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ chức năng quản lý, điều hành một cách thƣờng xuyên của Nhà nƣớc. Hay nói cách khác, chi thƣờng xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nƣớc nhằm trang trải những nhu cầu của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức chính trị xã hội thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục và đào tạo, y tế, hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ môi trƣờng và các hoạt động sự nghiệp khác. Nói tóm lại, chi thƣờng xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng vốn từ quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thƣờng xuyên của Nhà nƣớc về quản lý kinh tế, xã hội.
Đặc điểm chi thường xuyên ngân sách Nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phƣơng tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Cho nên, chi NSNN có những e 11 đặc điểm sau: Chi NSNN luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nƣớc phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ.
Chi NSNN gắn với quyền lực nhà nƣớc, mang tính chất pháp lý cao. Ở Việt Nam, Quốc hội là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội dung và mức độ các khoản chi NSNN. Tính hiệu quả của các khoản chi NSNN đƣợc thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về kinh tế, hội, chính trị và ngoại giao. Các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp.
Đặc điểm này giúp chúng ta phân biệt giữa các khoản chi NSNN với các khoản tín dụng, các khoản chi cho hoạt động kinh doanh. Các khoản chi của NSNN gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác nhƣ giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lƣơng, tín dụng và các phạm trù khác thuộc lĩnh vực tiền tệ. Từ các đặc điểm chung của chi NSNN, chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc bao gồm các đặc điểm cụ thể sau: Chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc gắn với quyền lực nhà nƣớc, mang tích chất pháp lý cao. Các khoản chi thƣờng xuyên NSNN mang tính ổn định.
Phạm vi, mức độ chi thƣờng xuyên NSNN gắn với cơ cấu, tổ chức và hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nƣớc. Các khoản chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc mang tính chất không hoàn trả trực tiếp; Xét theo cơ cấu chi ở từng niên độ và mục đích cuối cùng của vốn cấp phát thì chi thƣờng xuyên của NSNN cho các hoạt động sự nghiệp có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội. e 12 Các chính sách, chế độ về chi thƣờng xuyên của NSNN cho các cơ quan nhà nƣớc thƣờng chậm thay đổi. Nội dung và phân loại chi thường xuyên ngân sách nhà nước Theo Luật NSNN số: 83/2015/QH13, tại khoản 2, Điều 5 Chi NSNN bao gồm các khoản chi đầu tƣ phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thƣờng xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Nhƣ vậy chi thƣờng xuyên là một phần của chi NSNN. Có nhiều cách phân loại chi thƣờng xuyên NSNN, tiêu biểu một số cách phân loại nhƣ sau: a) Căn cứ vào tính chất kinh tế, chi thƣờng xuyên bao gồm 4 nhóm mục cụ thể nhƣ sau: Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân gồm: tiền lƣơng; phụ cấp lƣơng; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thƣởng; phúc lợi tập thể; chi về công tác ngƣời có công với cách mạng và hội; chi lƣơng hƣu và trợ cấp bảo hiểm hội; các khoản thanh toán khác cho cá nhân. Nhóm các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; vật tƣ văn phòng; thông tin tuyên truyên liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mƣớn; chi sửa chữa thƣờng xuyên; chi phí nghiệp vụ chuyên môn của ngành. Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ gồm: sửa chữa nhỏ tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; chi mua tài sản vô hình; mua sắm tài sản dùng cho chuyên môn.
Nhóm các khoản chi thƣờng xuyên khác. b) Căn cứ theo lĩnh vực chi, chi thƣờng xuyên gồm: Chi cho các đơn vị sự nghiệp: Đây là các khoản chi cho các đơn vị sự nghiệp công lập nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, e 13 phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu. Cụ thể: Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của nhà nƣớc; Chi cho hoạt động các đơn vị sự nghiệp văn hóa – xã hội; Chi cho hoạt động khoa học công nghệ; Chi cho hoạt động giáo dục, đào tạo; Chi cho hoạt động sự nghiệp y tế; Chi cho hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao; Chi cho hoạt động xã hội. Chi cho các hoạt động quản lý nhà nƣớc (chi quản lý hành chính): là các khoản chi để đảm bảo hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nƣớc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng nhƣ chi cho hệ thống cơ quan quyền lực, cơ quan hành chính, cơ quan chuyên môn các cấp nhƣ: Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân.
Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội: khoản chi cho an ninh nhằm đảm bảo trật tự an toàn hội. Chi quốc phòng nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đấu tranh chống lại sự xâm lấn của các thế lực bên ngoài. Chi cho hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chi cho hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam; Chi khác: ngoài các khoản chi trên, một số khoản chi không phát sinh thƣờng xuyên và liên tục trong năm ngân sách nhƣng vẫn thuộc về chi thƣờng xuyên nhƣ chi trợ giá theo chính sách của nhà nƣớc, chi hỗ trợ các đối tƣợng, các chƣơng trình đột xuất từ các khoản bổ sung chuyển giao của ngân sách cấp trên, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm hội. Ý nghĩa và vai trò của chi thường xuyên ngân sách nhà nước Thứ nhất, chi thƣờng xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi NSNN.
Thông qua chi thƣờng xuyên đã giúp cho bộ máy Nhà nƣớc duy trì hoạt động bình thƣờng để thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nƣớc, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ Quốc gia.