lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo và kết luận, bố cục của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: 5 Luan van Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về phát triển dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Tuyên Quang. 6 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM 1.
Tổng quan về dịch vụ thẻ tại các ngân hàng thƣơng mại 1. Lịch sử hình thành và phát triển của dịch vụ thẻ Ngày nay, với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học công nghệ, các phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phong phú và đa dạng, phần nào khẳng định đƣợc vai trò của mình trong các giao dịch kinh tế nhƣng kèm theo sự phát triển của các hoạt động thanh toán cũng cần phải có thêm một phƣơng tiện thanh toán mới mà công dụng, tính ƣu việt của nó bao trùm và hơn hẳn các phƣơng tiện thanh toán đã có trƣớc kia. Chính vì vậy, thẻ ra đời để khắc phục những hạn chế vốn có của các phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt khác dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật và xu thế phát triển của thời đại. Lịch sử hình thành của phƣơng thức thanh toán bằng thẻ bắt đầu từ năm 1914, khi công ty Western Union, một tổ chức chuyển tiền của Mỹ lần đầu tiên cung cấp cho các khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm.
Theo đó, công ty này phát hành những tấm thẻ bằng kim loại có chứa các thông tin đƣợc in nổi nhằm đảm bảo 2 chức năng: nhận diện, phân biệt khách hàng và cung cấp, cập nhật dữ liệu về khách hàng, bao gồm các thông tin về tài khoản cũng nhƣ các thông tin về các giao dịch đã thực hiện. Các tổ chức khác dần nhận ra những giá trị của loại hình dịch vụ nói trên của Western Union và chỉ một vài năm sau đó, rất nhiều đơn vị nhƣ nhà ga, khách sạn cũng nhƣ các cửa hàng trên khắp nƣớc Mỹ đã lựa chọn cung cấp dịch vụ trả chậm cho khách hàng của mình theo phƣơng thức của Western Union. Điển hình là vào năm 1924, tập đoàn xăng dầu của Mỹ đã cho ra đời tấm thẻ mua xăng đầu tiên, cho phép khách hàng của mình sử dụng thẻ này để mua xăng, dầu tại các cửa hàng trên toàn quốc. 7 Luan van Đến năm 1950, công ty phát hành thẻ tín dụng đầu tiên đã đƣợc thành lập bởi Frank Mc Namara và một doanh nhân ngƣời Mỹ khác là Palph Scheneider, công ty này đã cho ra đời thẻ tín dụng đầu tiên với tên gọi là Diners Club.
200 thẻ Diners Club đầu tiên đã đƣợc cấp cho những ngƣời giàu có và tiếng tăm trong xã hội tại New York và những chiếc thẻ này chỉ đƣợc sử dụng hạn chế trong 27 nhà hàng sang trọng tại thành phố New York lúc bấy giờ. Theo chân Diners Club, hàng loạt thẻ mới ra đời nhƣ: Trip Charge, Golden Key, Carte Blanche & American Express,. phần lớn các thẻ này chỉ dành cho giới doanh nhân nhƣng các ngân hàng đã nhận ra rằng giới bình dân mới là đối tƣợng sử dụng thẻ chủ yếu trong tƣơng lai. Bank of America là nơi đầu tiên phát triển loại thẻ Bank Americard và nó đã dấy lên làn sóng học hỏi từ các ngân hàng khác vì sự tiện lợi của thẻ này và nhu cầu đòi hỏi của khách hàng.
Vào năm 1965, Bank of America đã cấp giấy phép cho hàng loạt các ngân hàng lớn, nhỏ khắp nƣớc Mỹ, cho phép các ngân hàng này cấp thẻ Bank Americard cho khách hàng sử dụng. Đến năm 1969 hầu hết các thẻ tín dụng do những ngân hàng độc lập cấp đều chuyển qua loại thẻ Bank Americard hoặc Master Charge Card, lợi tức mang lại từ những chiếc thẻ này đã góp phần không nhỏ đƣa Bank of America từ một ngân hàng địa phƣơng trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất thế giới. Sau này, để mở rộng thị trƣờng và để tìm kiếm các khách hàng quốc tế nên Bank Americard đã đƣợc đổi tên thành Visa và Master Charge sau một vụ kiện đã đổi tên thành Master Card. Ngày nay, các loại thẻ ngân hàng nhƣ American Express, Visa, Master card, JCB, Diners Club đã đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới với hình thức, chủng loại đa dạng, phong phú, ngày càng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của ngƣời tiêu dùng.
Trong những năm sắp đến, thẻ thanh toán sẽ trở thành công cụ thanh toán thông dụng nhất và chiếm vị trí độc tôn trong các công cụ thanh toán tại hầu hết các nƣớc phát triển và đang phát triển, mang lại nguồn thu tƣơng đối lớn và ổn định cho các NHTM. Tại Việt Nam, chiếc thẻ đầu tiên đƣợc chấp nhận là vào năm 1990 khi Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam kí hợp đồng làm đại lí chi trả thẻ VISA với 8 Luan van ngân hàng Pháp BFCE và đây đã là bƣớc khởi đầu cho dịch vụ này phát triển ở Việt Nam. Trong suốt thời gian qua, dịch vụ thẻ đã phát triển với tốc độ cao, từ việc thẻ tại các ngân hàng Việt Nam đƣợc xem nhƣ một tài sản hay thƣơng hiệu đối với những gƣơng mặt thành đạt đến nay đã trở thành công cụ thanh toán thông dụng. Sự phát triển mạnh mẽ này đã khẳng định xu thế phát triển tất yếu của thẻ.
Các ngân hàng luôn tìm cách cải thiện và cung cấp những dịch vụ thanh toán tiện lợi nhất cho ngƣời tiêu dùng. Khái niệm và hình thức của thẻ 1. Khái niệm về thẻ Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về thẻ thanh toán, mỗi khái niệm đều trình bày những khía cạnh về thẻ thanh toán căn cứ trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. - Thẻ thanh toán là một phƣơng tiện TTKDTM do ngân hàng phát hành cho khách hàng, theo đó ngƣời sử dụng thẻ có thể dùng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT) hoặc có thể đƣợc dùng để rút tiền mặt tại các Ngân hàng đại lý hoặc các máy rút tiền tự động (ATM).
- Thẻ thanh toán là một phƣơng tiện TTKDTM mà ngƣời chủ thẻ có thể sử dụng để rút tiền mặt hoặc thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các điểm chấp nhận thanh toán bằng thẻ. - Thẻ thanh toán là phƣơng thức ghi sổ những số tiền cần thanh toán thông qua máy đọc thẻ phối hợp với hệ thống mạng máy tính kết nối giữa ngân hàng/tổ chức tài chính với các điểm thanh toán. Nó cho phép thực hiện thanh toán nhanh chóng, thuận lợi và an toàn đối với các thành phần tham gia thanh toán. - Thẻ ngân hàng là phƣơng tiện do tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản đƣợc các bên thoả thuận.
Nhƣ vậy, thẻ thanh toán là một phương thức thanh toán ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng; người sở hữu thẻ có thể dùng thẻ để thanh toán tiền mua hàng hoá dịch vụ hay rút tiền mặt tự động thông qua máy đọc thẻ hay các máy ATM trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Hình thức của thẻ Hầu hết các loại thẻ hiện nay làm bằng chất liệu plastic, gồm 3 lớp ép sát, lõi thẻ đƣợc làm bằng nhựa trắng, cứng nằm giữa hai lớp tráng mỏng. Màu sắc của thẻ thay đổi tùy theo TCPHT và tùy theo quy định thống nhất của mỗi tổ chức thẻ quốc tế. Thẻ có kích thƣớc chung theo tiêu chuẩn quốc tế là 84mm x 54mm x 0,76mm, có 4 góc tròn.
Ngày nay, với thành tựu của kỹ thuật vi điện tử, một số loại thẻ đƣợc gắn thêm một chip điện tử nhằm tăng khả năng ghi nhớ thông tin và tính bảo mật cho thẻ. Mặt trước của thẻ bao gồm: - Các huy hiệu của tổ chức phát hành thẻ, tên thẻ. - Biểu tƣợng của thẻ: Tên và biểu tƣợng của thẻ là yếu tố cho biết ngân hàng phát hành. Biểu tƣợng này do ngân hàng thiết kế và in trên bề mặt thẻ.
Biểu tƣợng này rất khó giả mạo nên đƣợc xem là yếu tố an ninh chống giả mạo. - Số thẻ: đây là số giành riêng cho mỗi chủ thẻ, số đƣợc dập nổi lên trên thẻ, số này đƣợc in trên hóa đơn khi chủ thẻ đi mua hàng, tùy từng loại thẻ có các chữ số khác nhau và cấu trúc khác nhau. - Ngày hiệu lực của thẻ: đây là thời hạn thẻ đƣợc lƣu hành - Họ và tên chủ thẻ: đƣợc in bằng chữ nổi - Ngoài ra còn có các yếu tố khác nhƣ: chữ ký chủ thẻ, hình chủ thẻ… Mặt sau của thẻ - Dải băng từ: chứa các thông tin đã đƣợc mã hóa; - Mã số bí mật cá nhân: (số PIN) - Ô chữ ký dành cho chủ thẻ: Khi dùng thẻ để thanh toán, cơ sở chấp nhận thẻ sẽ đối chiếu chữ ký trên hóa đơn với chữ ký mẫu để so sánh. Băng chữ ký này đƣợc làm từ một nguyên liệu đặc biệt có khả năng ngăn chặn mọi sự cố gắng tẩy xóa, sửa đổi trên bề mặt của nó và đƣợc ép chặt lên bề mặt thẻ.
Phân loại thẻ Có rất nhiều tiêu thức để phân loại thẻ nhƣng chủ yếu sử dụng theo 3 tiêu thức chính: phân loại theo công nghệ sản xuất, phân loại theo nguồn tài chính đảm bảo cho việc sử dụng thẻ và phân loại theo phạm vi lãnh thổ sử dụng thẻ (xem sơ đồ 1.1) 10 Luan van Thẻ in nổi Công nghệ sản xuất Thẻ từ Thẻ thông minh Thẻ tín dụng Thẻ Nguồn tài chính Thẻ ghi nợ ngân hàng Thẻ trả trƣớc Thẻ nội địa Phạm vi lãnh thổ Thẻ quốc tế Sơ đồ 1.1: Phân loại thẻ ngân hàng (Nguồn: Hội thẻ Ngân hàng Việt Nam) 1. Theo công nghệ sản xuất - gồm 3 loại: thẻ in nổi, thẻ từ và thẻ thông minh - Thẻ in nổi (Embossed Card): là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ đƣợc khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay, loại thẻ này ít đƣợc sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả.