Chương 1: Đặc trưng tiếng nói Tiếng Việt 6 HVTH: Phan Văn Đầy Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ GVHD: PGS.Lê Tiến Thường − Thanh ngang: Âm phát ra bằng phẳng và không có lên hay xuống từ đầu âm đến cuối âm. − Thanh huyền: Âm phát ra bằng phẳng nhưng hơi xuống về phía cuối âm một cách đều đặn. − Thanh ngã: Âm phát ra có điểm bắt đầu thấp và không bằng phẳng có đoạn xuống dốc bị dứt quãng do thanh hầu nghẽn lại tạo nên khoảng gián đoạn ở giữa thành và cuối cùng lại lên cao nhanh chóng. − Thanh hỏi: Âm phát ra đi xuống ở giữa thanh rồi lại tiếp tục đi lên đến ngang với điểm bắt đầu.
− Thanh sắc: Âm phát ra tăng lên không đều từ thấp có thể lên rất cao và cuối cùng kết thúc bằng một nét tắt giọng. − Thanh nặng: Âm phát ra bắt đầu thấp và từ từ xuống thấp rồi cuối cùng kết thúc bằng một nét tắt giọng. Có thể chia ra 3 tiêu chí để phân biệt thanh điệu Tiếng Việt: − Tiêu chí về cao độ: Các thanh ngang, sắc, ngã thuộc âm cao. Các âm huyền, hỏi, nặng thuộc âm thấp.
− Tiêu chí về sự thay đổi âm điệu: Các thanh huyền và thanh ngang có âm điệu bằng phẳng đều dặn gọi là thanh bằng, các thanh còn lại có sự biến đổi không đều phức tạp có cả sự tắt nghẽn gọi là các thanh trắc. − Tiêu chí về cách làm thay đổi âm điệu: Các thanh làm âm điệu chỉ thay đổi theo một hướng hoặc đi lên hoặc đi xuống gọi là các thanh không gãy ví dụ như thanh ngang, thanh huyền, thanh nặng,. Ngược lại các thanh thay đổi phức tạp hoặc bị tắt nghẽn ở giữa thanh gọi là các thanh gãy như thanh ngã, thanh hỏi,… Chương 1: Đặc trưng tiếng nói Tiếng Việt 7 HVTH: Phan Văn Đầy Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ GVHD: PGS.Lê Tiến Thường 1.3 Cấu trúc âm tiết Tiếng Việt: Khi phát âm một âm tiết, các cơ thịt của bộ máy phát âm đều trải qua ba giai đoạn: Tăng cường dần độ căng, đạt tới đỉnh điểm của độ căng và sau đó là giảm độ căng.1: Đồ thị biểu diễn cường độ quá trình phát âm của âm tiết “xanh xanh” Căn cứ vào cách kết thúc âm tiết (tức là phần giảm cường độ các âm tiết), Tiếng Việt sẽ được phân loại như sau: − Âm tiết mở là những âm tiết kết thúc bằng cách giữ nguyên âm sắc của nguyên âm (những âm tiết không có phần cuối là phụ âm hay bán nguyên âm). Ví dụ như các âm tiết: ta, ma, ta, to… − Âm tiết khép là những âm tiết kết thúc bằng phụ âm.
Ví dụ như các âm tiết: tát, tốt, đánh, canh…(khi phụ âm kết thúc là các âm vang như m, ng, nh … người ta nói rằng đó là các âm tiết nửa khép). − Âm tiết nửa mở là những âm tiết kết thúc bằng một bán nguyên âm. Ví dụ như các âm tiết: tay, cay, tao, câu… Âm tiết tiếng Việt có một cấu trúc chặt chẽ riêng biệt của mình. Mô hình cấu trúc tổng quát của một âm tiết tiếng Việt được thể hiện như bảng 1.1: Thanh điệu Phần vần Âm đầu Âm Âm chính Âm đệm cuối Bảng 1.1: Cấu trúc tổng quát của một âm tiết tiếng Việt Chương 1: Đặc trưng tiếng nói Tiếng Việt 8 HVTH: Phan Văn Đầy Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ GVHD: PGS.Lê Tiến Thường Chương 1 ĐẶC TRƯNG TIẾNG NÓI TIẾNG VIỆT Tín hiệu tiếng nói có thể xem như tín hiệu ngẫu nhiên vì không thể xác định chính xác biên độ và tần số của tiếng nói sẽ nói.
Tuy nhiên trong mỗi tiếng (của cùng một ngôn ngữ) lại chứa những thành phần đặc trưng riêng. Việc tách đặc trưng tiếng nói là quá trình quan trọng trong hệ thống nhận dạng giọng nói. Việc nhận dạng không thể thực hiện trực tiếp từ nguyên vẹn tín hiệu gốc vừa được lấy mẫu vì thành phần này có dung lượng lớn và dễ thay đổi theo thời gian. Các hệ thống nhận dạng sẽ phân biệt tiếng này hày hay tiếng kia dựa trên các đặc trưng riêng này của mỗi tiếng.
Quá trình trích đặc trưng giọng nói là quá trình cô đọng tín hiệu tiếng nói thành các thông số đặc tính. Việc này ngoài việc giảm nhẹ công việc nhận dạng mà còn tăng sự chính xác cho hệ thống nhận dạng.1 Tổng quan về tiếng nói : Giao tiếp bằng tiếng nói là phương cách nhanh và hiệu quả. Tuy nhiên quá trình nghe hiểu tiếng nói không phải đơn giản. Nó chỉ thực hiện hoàn hảo được với cấu trúc phức tạp của bộ não người.
Đó là cả một quá trình xử lý rất phức tạp với với các cơ quan có cấu trúc đặc biệt của cơ thể. Tín hiệu tiếng nói chứa thông tin thoại có tần số tập trung trong khoảng từ 300Hz đến 3,5KHz. Đây cũng chính là khoảng tần số chứa năng lượng chủ yếu của tín hiệu tiếng nói. Một đặc điểm đáng chú ý của tín hiệu tiếng nói là sự biến đổi chậm theo thời gian.
Nghĩa là nếu ta xét tín hiệu tiếng nói trong những khoảng thời gian ngắn thì nó có tính chất gần như không đổi. Chương 1: Đặc trưng tiếng nói Tiếng Việt 4 HVTH: Phan Văn Đầy Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ GVHD: PGS.Lê Tiến Thường Con người vẫn nhiều lúc không nhận ra được tiếng nói do sự biến đổi lớn các đặc trưng hay do bộ não chưa được học. Đối với quá trình nhận dạng tiếng nói, ngoài việc nhận ra các đặc trưng thì quá trình học thích nghi với các thay đổi của đặc trưng cũng rất quan trọng.2 Các đặc điểm cơ bản của Tiếng Việt: Tiếng Việt có những đặc trưng khác biệt so với các ngôn ngữ khác trong cách phát âm cũng như ghép các âm thành từ có nghĩa. Đơn vị nhỏ nhất của tiếng Việt là tiếng (âm tiết), có các đặc điểm sau: − Tính độc lập: Mỗi âm tiết là một thành phần nhỏ, chúng rõ ràng và tách biệt với nhau.
Mỗi từ (chữ viết) đại diện cho một tiếng duy nhất. − Không có hiện tượng nối âm: Trong tiếng Việt, dù nói nhanh hay chậm thì mỗi tiếng đều được phát ra riêng lẻ, không có hiện tượng nối âm hay nuốt âm như trong tiếng Anh. Điều này giúp ranh giới giữa các tiếng rõ ràng với nhau, không có một sự chồng lấn nào. − Tiếng Việt có hai loại từ là từ đơn và từ ghép.
Từ đơn là từ chỉ tạo từ một tiếng. Từ ghép là từ được ghép từ các từ đơn lại với nhau. Trong đa số trường hợp các mỗi từ đơn bản thân nó đã mang một ý nghĩa đầy đủ. Việc ghép các từ mà bản thân đã có nghĩa thành một từ khác có nghĩa sẽ gây khó khăn cho việc nhận dạng từ ghép.1 Ngữ âm Tiếng Việt [1]: − Âm vị: Một tiếng nói gồm một chuỗi các âm cơ bản gọi là âm vị.
Âm vị là một đơn vị trừu tượng mà ta không thể quan sát trực tiếp trong tín hiệu tiếng nói được. − Nguyên âm: Trong lúc nguyên âm được phát ra, các khớp trong bộ máy phát âm được giữ cố định. Nguyên âm được phát ra từ miệng không có sự kết hợp của mũi. Vị trí mũi giữ cố định khi phát nguyên âm và các nguyên Chương 1: Đặc trưng tiếng nói Tiếng Việt 5 HVTH: Phan Văn Đầy Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ GVHD: PGS.Lê Tiến Thường âm khác nhau được tạo ra do các vị trí khác nhau của lưỡi.
Nguyên âm được phát ra đều đặn trong khoảng thời gian tương đối chứ không bị tắt nghẽn. Nguyên ấm có tần số ổn định mặc dù cũng được tạo thành từ nhiều tần số cộng lại chứ không phải một tần số duy nhất. Trong đó tần số thấp là âm cơ bản và các bội tần là các họa âm. Nguyên âm có thể phân loại thành nguyên âm bỗng, nguyên âm trầm, nguyên âm dài nguyên âm ngắn… Nguyên âm tương đối dễ nhận dạng hơn các âm khác do đặc tính tần số ổn định.
− Phụ âm: Khác với tính đều đặn của nguyên âm, phụ âm được tạo ra do luồng khí phát ra từ phổi bị cản trở tại một vị trí nào đó trong bộ máy phát âm. Do sự cản trở này làm cho tần của phụ âm không có tính ổn định, nó tắt đứt quãng và không đều. Phụ ậm được chia thành các loại cơ bản sau : 9 Phụ âm bật hơi: Âm được phát ra từ sự phá vỡ các cản trở và cọ xát giữa hai mép dây thanh. Phụ âm bật hơi ví dụ như : “th” , “t”, “tr”,… 9 Phụ âm mũi: Âm được phát ra từ luồng không khí được tạo ra và thoát ra ngoài qua nhẹ nhàng khoang mũi.
Khi qua khoang mũi âm này chịu cộng hưởng của khoang mũi. Phụ âm này còn gọi là âm vang. Phụ âm mũi ví dụ như: “m”, “n”, “ng”… 9 Phụ âm xát: Phụ âm xát được tạo ra luồng không khí đi ra từ phổi bị cản trở một phần tạo nên các tiếng cọ xát với thành ống dẫn thanh.2 Thanh điệu Tiếng Việt: Thanh điệu là yếu tố thể hiện cao độ hay sự biến đổi cao độ trong một âm tiết. Thanh điệu làm thay đổi thành phần tần số cơ bản của âm tiết nó là sự nâng lên hay hạ xuống của âm điệu theo thời gian.
Tiếng Việt có sáu thanh cơ bản: Chương 1: Đặc trưng tiếng nói Tiếng Việt 6 HVTH: Phan Văn Đầy Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ GVHD: PGS.Lê Tiến Thường − Thanh ngang: Âm phát ra bằng phẳng và không có lên hay xuống từ đầu âm đến cuối âm. − Thanh huyền: Âm phát ra bằng phẳng nhưng hơi xuống về phía cuối âm một cách đều đặn. − Thanh ngã: Âm phát ra có điểm bắt đầu thấp và không bằng phẳng có đoạn xuống dốc bị dứt quãng do thanh hầu nghẽn lại tạo nên khoảng gián đoạn ở giữa thành và cuối cùng lại lên cao nhanh chóng. − Thanh hỏi: Âm phát ra đi xuống ở giữa thanh rồi lại tiếp tục đi lên đến ngang với điểm bắt đầu.
− Thanh sắc: Âm phát ra tăng lên không đều từ thấp có thể lên rất cao và cuối cùng kết thúc bằng một nét tắt giọng. − Thanh nặng: Âm phát ra bắt đầu thấp và từ từ xuống thấp rồi cuối cùng kết thúc bằng một nét tắt giọng. Có thể chia ra 3 tiêu chí để phân biệt thanh điệu Tiếng Việt: − Tiêu chí về cao độ: Các thanh ngang, sắc, ngã thuộc âm cao. Các âm huyền, hỏi, nặng thuộc âm thấp.
− Tiêu chí về sự thay đổi âm điệu: Các thanh huyền và thanh ngang có âm điệu bằng phẳng đều dặn gọi là thanh bằng, các thanh còn lại có sự biến đổi không đều phức tạp có cả sự tắt nghẽn gọi là các thanh trắc.