Chương 1: Thoại IP và một số vấn đề cần giải quyết vào các đặc tính của thoại và tính chất trễ, mất gói mà đầu thu có cơ chế che dấu mất hợp lý. Các kỹ thuật đạt đƣợc chất lƣợng cao nhƣ: co dãn thời gian, tái tạo theo mô hình, nội suy dạng sóng. Và độ phức tạp của các kỹ thuật cũng khác nhau. Chƣơng 3 sẽ trình bày và phân tích chi tiết hơn về các kỹ thuật để làm cơ sở lựa chọn.
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ TRUYỀN THOẠI QUA MẠNG IP 2.1 GIỚI THIỆU Khái niệm truyền tín hiệu thoại qua mạng gói không phải là một khái niệm mới. Nó đã đƣợc nghiên cứu khá nhiều vào những năm cuối thập kỷ 70 và những năm đầu thập kỷ 80. Cuối thập kỷ 70 đã có những nghiên cứu và thử nghiệm với thoại gói hoá truyền qua mạng APPANET (tiền thân của mạng Internet ngày nay) cho thấy điều này có thể thực hiện đƣợc. Đầu năm 1995, công ty VovalTec đƣa ra sản phẩm phần mềm thoại qua Internet (kết nối điểm - điểm) đầu tiên trên thế giới.
Sau đó, nhiều công ty đã đầu tƣ nghiên cứu và đƣa ra sản phẩm thƣơng mại. Tháng 3 năm 1996, VocalTec kết hợp với Dialogic đã đƣa ra sản phẩm cổng kết nối PSTN và Internet (gateway) đầu tiên trên thế giới. Hiệp hội các nhà sản xuất thoại qua máy tính ECTF đã ra đời nhằm đƣa ra các tiêu chuẩn cho thoại qua Internet. Hiệp hội này bao gồm 36 công ty máy tính và viễn thông hàng đầu thế giới nhƣ AT&T, IBM, Sun Microsystem, Digital, Erisson.
Với lợi thế giá cƣớc thấp, dịch vụ thoại qua mạng Internet thực sự đã làm nhiều nhà kinh doanh trên thế giới quan tâm. Tuy mới đƣợc triển khai, song lƣu lƣợng thoại qua mạng Internet đã tăng đáng kể. Việc đƣa VoIP vào mạng có thể coi là một cuộc cách mạng thực sự trong ngành viễn thông. Thoại IP là công nghệ truyền thoại qua mạng sử dụng giao thức IP, nó có thể là VoIP hoặc thoại Internet.
Mạng IP đã phát triển nhanh chóng và ngày càng trở nên phổ biến trong nhƣng năm gần đây. Thoại truyền trong mạng IP có nhiều ƣu điểm hơn thoại qua mạng chuyển mạch kênh nhƣ: dễ dàng tích hợp các loại dịch vụ, thông tin đa phƣơng tiện; sử dụng hiệu quả băng thông. Nguyên lý cơ bản của thoại IP là đóng gói tín hiệu thoại vào trong các gói IP rồi truyền đi nhƣ một dạng của thông tin dữ liệu. Vấn đề ở đây là độ trễ, thoại 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Cơ sở truyền thoại qua mạng IP cũng nhƣ video là loại thông tin thời gian thực rất nhạy cảm với trễ.
Trong khi IP là một dạng chuyển mạch gói, thoại IP làm việc dựa trên bộ giao thức TCP/IP, bộ giao thức này chỉ có khả năng hạn chế đƣợc phần nào độ trễ truyền dữ liệu thông qua trƣờng "Time to Live" (thời gian tồn tại) trong tiêu đề IP. Nhƣng đó cũng chỉ là "best effort" (nỗ lực đến mức tối đa) mà thôi. Nhƣ vậy cần phải sử dụng một giao thức ở lớp trên có khả năng giải quyết vấn đề này, đó là giao thức truyền tải thời gian thực (RTP/RTCP) và các giao thức đó sẽ đƣợc trình bày trong chƣơng này.2 GIAO THỨC TCP/IP 2.1 Giới thiệu Mô hình tham chiếu TCP/IP, giao thức điều khiển truyền và giao thức liên mạng (TCP/IP - Transmission Control Protocol / Internet Protocol) là một họ nhiều giao thức cùng làm việc với nhau để cung cấp phƣơng tiện truyền thông liên mạng. Nó là bộ giao thức đƣợc sử dụng hết sức phổ biến và đóng góp chính vào sự thành công của Internet.
Cùng với sự phát triển bùng nổ của Internet, nhiều công ty đang xem xét giá trị của công nghệ TCP/IP. TCP/IP cung cấp một bộ dịch vụ và ứng dụng mạnh, và nó đã đƣợc chuẩn hoá. Không một công nghệ nào khác cung cấp các dịch vụ của TCP/IP, cung cấp khả năng kết nối các thiết bị của hầu hết các hãng nhƣ TCP/IP. Một điều quan trọng khác là tính ổn định của TCP/IP, nó đã đƣợc chuẩn hoá và phát triển trên 15 năm [21].
TCP/IP không phải là một giao thức đơn lẻ mà là một bộ hàng trăm giao thức, mỗi giao thức đƣợc sử dụng cho một ứng dụng cụ thể trên Internet. Đây chính là một trong các nhân tố làm cho TCP/IP rất linh hoạt; mỗi giao thức có thể đƣợc sử dụng độc lập với các giao thức khác. Mô hình tham chiếu của chồng giao thức TCP/IP gồm 4 lớp: Lớp ứng dụng (Application), lớp giao vận (Transport), lớp mạng (Internet), lớp giao diện mạng (Network Interface). Các chức năng trong mỗi tầng của chồng giao thức TCP/IP tƣơng ứng với một hoặc nhiều tầng trong mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở (OSI - Open System Interconnection).
Mỗi lớp trong chồng 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Cơ sở truyền thoại qua mạng IP giao thức TCP/IP chứa một hoặc nhiều giao thức.1 minh hoạ chồng giao thức TCP/IP và so sánh với mô hình OSI. Mô hình OSI Chồng giao thức TCP/IP 7 Ứng dụng Trình diễn 6 Ứng dụng Phiên 5 Giao vận Giao vận 4 Mạng Mạng Liên kết dữ 3 Giao diện liệu Vật lý mạng 2 Hình 2.1: 1 Mô hình 4 lớp của TCP/IP so sánh với mô hình với 7 lớp OSI Trong chồng giao thức TCP/IP sẽ tập trung trình bày chi tiết hơn vào giao thức lớp mạng (IP) và giao thức lớp giao vận (TCP).2 Lớp ứng dụng Lớp trên cùng của chồng giao thức TCP/IP là lớp ứng dụng, nó bao gồm nhiều giao thức cung cấp các dịch vụ truyền thông. Mỗi giao thức cung cấp chức năng lớp ứng dụng, lớp trình diễn và lớp phiên. Hiện nay có hàng trăm hoặc thậm chí hàng nghìn các giao thức lớp ứng dụng khác nhau chạy trên TCP/IP.
Một số giao thức thông dụng ở lớp ứng dụng nhƣ: FTP (File Transfer Protocol): Hỗ trợ truyền tệp giữa các máy tính. Ứng dụng khách cho phép ngƣời dùng lƣu trữ và nhận các tệp từ một máy chủ ở xa. Telnet (TERminaL NETwork): Cho phép các phiên đăng nhập từ xa giữa các máy tính. Do Telnet hỗ trợ chế độ văn bản nên giao diện ngƣời dùng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Cơ sở truyền thoại qua mạng IP thƣờng ở dạng dấu nhắc lệnh tƣơng tác.
Chúng ta có thể đánh lệnh và các thông báo trả lời sẽ đƣợc hiển thị. HTTP (Hyper Text Transfer Protocol): Trao đổi các tài liệu siêu văn bản để hỗ trợ WEB. SMTP (Simple Mail Transfer Protocol): Trao đổi thƣ điện tử giữa các máy tính. Đây là dạng đặc biệt của truyền tệp đƣợc sử dụng để gửi các thông báo tới một máy chủ thƣ hoặc giữa các máy chủ thƣ với nhau.
Các giao thức này đƣợc các ứng dụng sử dụng để truyền dữ liệu điểm-điểm. Mỗi giao thức thƣờng có hai vai trò. Một phía của kết nối sẽ là ứng dụng khách, phía kia sẽ là ứng dụng chủ. Chủ và khách thoả thuận xem chúng sẽ truyền thông thế nào.
Một số ứng dụng có thể sử dụng nhiều giao thức lớp ứng dụng. Ví dụ, hầu hết các trình duyệt WEB đều thực thi nhiều giao thức lớp ứng dụng, do đó ngƣời dùng có thể truy nhập thông tin bằng cách sử dụng một giao thức thích hợp. Một số giao thức ở lớp ứng dụng thƣờng không cung cấp trực tiếp dịch vụ cho ứng dụng ngƣời dùng mà cung cấp dịch vụ cho các giao thức lớp ứng dụng khác. Những giao thức nhƣ vậy đƣợc gọi là giao thức làm việc ở hậu trƣờng: DNS (Domain Name System): Chuyển đổi tên miền thành địa chỉ IP.
Giao thức này thƣờng đƣợc các ứng dụng sử dụng khi ngƣời dùng ứng dụng này dùng tên chứ không dùng địa chỉ IP. DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol): Cung cấp các thông tin cấu hình động cho các trạm, chẳng hạn nhƣ gán địa chỉ IP. SNMP (Simple Network Managament Protocol): Đƣợc sử dụng để quản trị từ xa các thiết bị mạng chạy TCP/IP. SNMP thƣờng đƣợc thực thi trên các trạm của ngƣời quản lý, cho phép ngƣời quản lý tập trung nhiều chức năng giám sát và điều khiển trong mạng.3 Lớp giao vận Một máy tính có thể có nhiều ngƣời dùng, và mỗi ngƣời dùng có thể có nhiều kết nối TCP/IP cùng lúc.
Làm thế nào để TCP/IP có thể giữ đƣợc các kết 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 2: Cơ sở truyền thoại qua mạng IP nối này? Điều này đƣợc thực hiện bằng cách sử dụng các giao thức lớp tầng giao vận. Các giao thức lớp giao vận cung cấp các dịch vụ cho phép nhiều điểm cuối truyền thông tồn tại trên một máy. Mỗi điểm cuối này đƣợc gọi là một cổng (port). Trong một mạng TCP/IP, địa chỉ IP đƣợc sử dụng để nhận biết một trạm.
Tuy nhiên trên một trạm lại có thể có nhiều kết nối TCP/IP cùng lúc, do đó nếu chỉ sử dụng địa chỉ IP thì chƣa thể nhận diện đƣợc các kết nối TCP/IP. Socket (sự kết hợp của địa chỉ IP và cổng) đƣợc sử dụng để nhận biết các kết nố i TCP/IP. Chúng ta có thể có nhiều socket trên một trạm. Mỗi socket có thể đƣợc một giao thức lớp ứng dụng sử dụng.
Do số lƣợng cổng trên một máy nhiều nên trên một máy có thể có nhiều ngƣời dùng truyền thông cùng lúc. Lớp giao vận trong TCP/IP có hai giao thức là giao thức điều khiển truyền thông (TCP - Transmission Control Protocol) và giao thức dữ liệu ngƣời sử dụng (UDP - User Data Protocol). TCP và UDP cung cấp các dịch vụ rất khác nhau.1 Giao thức TCP TCP cung cấp truyền thông hƣớng kết nối (connection-oriented), nghĩa là cần thiết lập một kết nối logic giữa các cặp thực thể TCP trƣớc khi chúng trao đổi dữ liệu với nhau. Khi một ứng dụng chọn TCP làm dịch vụ truyền thông, TCP thiết lập một kết nối giữa tiến trình nguồn và đích.
Các tiến trình này có thể chạy trên cùng một máy hoặc trên các máy khác nhau. Khi kết nối đã đƣợc thiết lập thì ứng dụng có thể truyền dữ liệu qua kết nối này. Kết nối TCP là kết nối hai chiều. Phần mềm TCP tại mỗi đầu của kết nối duy trì thông tin về kết nối cho đến khi các tiến trình truyền thông giải phóng kết nối.
TCP cung cấp dịch vụ tin cậy vì nó thực hiện cơ chế xác nhận và gửi lại dữ liệu trong trƣờng hợp có lỗi. Cần chú ý rằng TCP không thể sử dụng cho kiểu truyền quảng bá và đa hƣớng vì nó là kiểu truyền thông điểm - điểm. Do vậy, một ứng dụng khi cần truyền quảng bá hoặc đa hƣớng phải tự chuyển tiếp thông tin qua các kết nối độc lập. Đơn vị dữ liệu TCP sử dụng đƣợc gọi là phân đoạn (segment).