Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về chi chè 1. Vị trí phân loại chi Camellia L. Theo hệ thống phân loại thực vật của Takhtajan, vị trí phân loại của chi Camellia L.
có thể được tóm tắt như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta). Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Sổ (Dilleniidae) Bộ: Chè (Theales) Họ: Chè (Theaceae) 1. Đặc điểm hình thái và phân bố chi Camellia L. Đặc điểm hình thái chi Camellia L.
Cây bụi hoặc cây nhỏ, thường xanh, cành nhẵn hay có lông. Lá thường có cuống, đơn, mọc so le, không có lá kèm; chóp lá nhọn, có đầu nhọn hoặc kéo dài thành đuôi; gốc lá hình nêm hẹp, nêm rộng, tròn hay hình tim; mép có răng cưa nhọn hoặc tù. Hoa đều, lưỡng tính, kích thước lớn hoặc nhỏ, mọc đơn độc ở nách lá hoặc đầu cành. Hoa màu đỏ, trắng hoặc vàng.
Cuống hoa ngắn hoặc gần như không có cuống. Lá bắc 2-10, mọc xoắn trên cuống hoa. Cánh hoa 4-19, hợp một phần ở gốc cùng với vòng nhị ngoài. Nhị nhiều, dính với nhau ở phía gốc, vòng nhị phía trong rời nhau, chỉ nhị dài.
Bầu trên, 1-5 ô, vòi nhụy 1-5, dạng sợi, rời hoặc dính nhau; bầu và vòi nhụy nhẵn hay phủ lông mịn. Quả nang, hình cầu dẹt hoặc hình trứng, khi khô chẻ ô từ trên xuống thành 3, 4 hay 5 mảnh; có trụ hay không; vỏ quả dày hay mỏng, hóa gỗ. Hạt 1 đến nhiều hạt trong mỗi ô, hình cầu, nửa cầu hay hình nêm, vỏ hạt màu nâu, nâu hạt giẻ nhạt hoặc nâu hồng, phủ lông hay nhẵn [12], [4], [9], [2]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 4 http://www.
Đặc điểm phân bố chi Camellia L. *Trên thế giới Chi Camellia L. có khoảng 280 loài, phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và á nhiệt đới, có nguồn gốc ở khu vực miền đông và miền nam châu Á, từ phía đông dãy Himalaya tới Nhật Bản và Indonesia. - Châu Á: Ấn độ, Bangladesh, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Iran, Malaysia, Myanmar, Nepal, Nhật Bản, Sri-lanka, Trung Quốc, Việt Nam.
- Châu Phi: Burundi, Ethiopia, Kenya, Maritius, Nam Phi, Uganda. - Nam Mỹ: Argentina, Brazil, Ecuador, Peru. - Châu Đại Dương: Australia, New-Zeland. - Châu Âu: Thổ Nhĩ Kỳ, Liên xô (cũ) Ở Trung Quốc, các loài Camellia đã được quan tâm bảo tồn và phát triển từ khá sớm.
Đến nay có nhiều trung tâm bảo tồn và nghiên cứu phát triển Trà, trong đó có Trà hoa vàng. Vườn ngân hàng gen Camellia Nam Ninh là nơi lưu giữ bộ sưu tập lớn nhất Trà hoa vàng (Camellia chrysantha.Sealy) trên thế giới. Lưu giữ hơn 20 loài Camellia và 15 thứ trà hoa vàng (Camellia chrysantha) nhằm bảo tồn, nghiên cứu, lai tạo giống và nghiên cứu về trồng trọt. Có 3,000 cá thể được lưu giữ, từ đó tạo ra 7,000 dòng lai từ cây bố mẹ là Trà hoa vàng (Camellia chrysantha.Sealy) và các loài khác trong chi Camellia L.
Có 6 loài trong bộ sưu tập được thu từ Việt Nam, gồm: C. murauchii Ninh & Hakoda, C. Ye Liang và C. amplexicaulis (Pitard) Cohen-Stuart.
Ngoài ra, còn nhiều vườn khác lưu giữ các loài và giống Camellia, bao gồm: Guilin Botanic Garden Yanshan - Quảng Tây (20 loài); The Jinhua International Camellia Species Garden - Chiết Giang (25 loài); The Fangcheng Golden Camellia Nature Reserve and Gene Bank - Quảng Tây (28 loài và giống Trà hoa vàng); Kunming Institute of Botany - Vân Nam (25 loài, trong đó có 8 loài từ Việt Nam), bao gồm: C. crassiphylla Ninh & Hakoda; C. cucphuongensis Ninh & Rosmann; C. inusitata Orel, Curry & Luu [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 5 http://www.vn/ c *Ở Việt Nam Việt Nam được các nhà khoa học xác định nằm trong trung tâm đa dạng sinh học của các loài Trà được tìm thấy ở một số khu vực như Tam Đảo, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Tuyên Quang, Yên Bái, Cúc Phương… Đến nay đã xác định có 58 loài Camellia L., thuộc các nhóm: Trà, Hải đường, Trà mi, Sở (Trà dầu), trong đó có 27 loài Camellia L. có hoa màu vàng [14] (Bảng 1. Danh mục các loài Camellia L. có hoa vàng ở Việt Nam TT Tên Khoa học Tên Việt Nam Phân bố 1.
Camellia aurea Hung T. Chang Trà hoa vàng kim VN 2. Camellia crassiphylla Ninh & Hakoda Trà hoa vàng lá dày VN 3. Camellia cucphuongensis Ninh & Rosmann Trà hoa vàng Cúc Phương VN 4.
Camellia dalatensis Luong, Tran & Hakoda Trà hoa vàng Đà Lạt VN 5. Camellia dilinhensis Ninh & V.Luong Trà hoa vàng Di Linh VN 6. Camellia dormoyana (Pierre) Sealy Trà hoa vàng Đo môi VN 7.Sealy Trà hoa vàng Tiên Yên VN, TQ 8. Camellia flava (Pit.) Sealy Trà hoa vàng nhạt VN 9.
Camellia chrysantha (Hu) Tuyama Trà hoa vàng VN, TQ 10.) Sealy Trà hoa Gilbert VN, TQ 11.Sealy Trà hoa vàng Hako VN 12.Sealy Trà hoa vàng Hàm Yên VN 13. Camellia hirsute Trà hoa vàng nhiều lông VN 14. Camellia huulungensis Rosmann & Ninh Trà hoa vàng Hữu Lũng VN 15. Camellia impressinervis Hung T.
Ye Liang Trà hoa vàng gân lõm VN, TQ 16. Camellia kirinoi Ninh Trà hoa vàng Kiri VN 17.Mo Trà hoa vàng da cam VN, TQ 18. Camellia murauchii Ninh & Hakoda Trà hoa vàng Murô VN 19. Camellia megasepala Hung T.Chang & Trin Ninh Trà hoa vàng Ba Bể VN, TQ 20.
Camellia petelotii (Merr.) Sealy Trà hoa vàng Petelot VN 21. Camellia phanii Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Phan VN 22. Camellia quephongensis Hakoda et Ninh Trà hoa vàng Quế Phong VN 23. Camellia rosmannii Ninh Trà hoa vàng Yên Tử VN 24.
Camellia tamdaoensis Ninh et Hakoda Trà hoa vàng Tam đảo VN 25. Camellia thanxaensis Trà hoa vàng Thần Sa VN 26. Camellia tonkinensis (Pit.) Cohen-Stuart Trà hoa vàng Bắc bộ VN 27. Camellia tienii Ninh Hải đường hoa vàng VN Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 6 http://www.
Đặc điểm thực vật học, sinh thái học và giá trị kinh tế một số loài cây Trà hoa vàng 1. Đặc điểm thực vật học, sinh thái học của một số loài Trà hoa vàng 1. Trà hoa vàng ở Ba Vì - Hà Nội Trà hoa vàng ở Ba Vì (Camellia tonkinensis) thuộc nhóm cây gỗ nhỏ, cao 3-5m, mọc rải rác trong rừng. Thân tròn, thẳng, có màu trắng nhờ, cành non và ngọn non có màu nâu đỏ.
Cây sinh trưởng thường xuyên nhưng tốc độ chậm, có rễ cọc to và dài, ăn sâu. Về hình thái, Trà hoa vàng Ba Vì có lá hình trái xoan dài, đầu lá nhọn, lá dài 9,5-14,5 cm, rộng 3,5-5,0 cm, lá đơn mọc cách không có lá kèm, lá non màu nâu đỏ và mọc chúc xuống rất đặc trưng. Hệ gân lá nổi cả 2 mặt, có 8-9 đôi, gân phụ hợp mép; phiến lá dày, cứng và dài, mép lá có răng cưa. Cây có hoa màu vàng tươi, hoa lưỡng tính, hoa to, đường kính hoa 6-8cm, hoa nở lâu tàn, có thể duy trì được 8-10 ngày.
Mùa hoa từ tháng 10 đến tháng 12[14]. Hình ảnh phân bố và hình thái Trà hoa vàng Ba Vì A. Trạng thái rừng; B. Hình thái Trà hoa vàng (Nguồn: Ngô Thị Minh Duyên và cs)[4] Trà hoa vàng ở Ba Vì (Camellia tonkinensis) sống trong rừng thứ sinh đang phục hồi, chỉ còn lại ở ven một số khe suốib.sườn Tây Hoa và núi hoa lá Trà Ba vàng Vì nơi có độ cao 300-500m so với mặt biển.
Trà hoa vàng thường mọc cùng các loài Gội, Long não, Mán đỉa, Máu chó, Nhội, Vàng anh, Xoan nhừ… Trà hoa vàng ở Ba a. Trạng thái rừng có Trà hoa vàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 7 http://www.vn/ c Vì sống trong điều kiện khí hậu có nhiệt độ trung bình năm là 23,4 0C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là 15,7 0C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) là 29,10C; lượng mưa trung bình năm là 2166 mm. Về đất đai, Trà hoa vàng ở Ba Vì sống ven khe suối ẩm, độ sâu tầng đất > 60cm, đất có thành phần cơ giới nhẹ (từ thịt nhẹ đến trung bình). Tầng A màu xám đen, tương đối nhiều mùn, đất chuyển lớp rõ, tỉ lệ đá lẫn 5-15%.
Đất có độ pH = 5-6,9; lượng mùn (OM) tầng mặt khá 2,3 - 5,4%; lượng đạm tổng số nghèo 0,056 - 0,313%; lượng lân tương đối khá là 9,7 - 15,6 (mgP2O5 /100g); giàu kali 10-30 (mg K2O/100g) [11] 1. Trà hoa vàng ở Sơn Động - Bắc Giang Trà hoa vàng (Camellia euphlebia) phân bố tự nhiên tại Sơn Động là loài cây gỗ nhỏ, vỏ nhẵn màu xám mốc; lá có dạng hình trứng thuôn dài, mép lá có răng cưa dài, mặt trên lá nhẵn bóng, có màu xanh thẫm, mặt dưới xanh nhạt, hơi ráp. Gốc lá hình nêm hay tù, đầu lá hơi nhọn, lá dài bình quân 9-15 cm, rộng 4- 7 cm. Mỗi bên lá có 9-12 gân, gân lá hợp cách mép lá 0,2 - 0,6cm.; Hoa màu vàng tươi, đường kính hoa 5 - 6cm, hoa nở vào tháng 10 đến tháng giêng năm sau; số lượng hoa trên cây nhiều, hoa mọc ở đầu cành hay nách lá [14] A B Hình 1.
Trạng thái rừng và hình thái Trà hoa vàng Sơn Động A. Trạng thái rừng có Trà hoa vàng; B. Hoa và lá Trà hoa vàng (Nguồn: Ngô Thị Minh Duyên và cs) )[4] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN 8 http://www.vn/ c Trà hoa vàng ở Sơn Động cũng thường mọc ven khe suối, trong rừng thứ sinh nghèo, ở độ cao so với mặt biển là 300- 350m; dưới độ tàn che 0,6-0,7; chiều cao trung bình của rừng là 12,3m. Trà hoa vàng ở Sơn Động thường mọc cùng các loài Kháo, Lim xanh, Sảng, Trám, Máu chó.
trong điều kiện khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 22,50, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) là 28,10C, trung bình tháng lạnh nhất (tháng giêng) là 14,90C; lượng mưa trung bình năm là 1560mm, lượng mưa lớn hơn lượng bốc hơi. Trà hoa vàng ở Sơn Động thường mọc ven suối trên đất thịt nhẹ, độ sâu tầng đất tới 80 cm, đất tầng mặt tương đối xốp, có màu nâu hoặc xám đen tỉ lệ đá lẫn 5- 10%, đất ẩm và chuyển lớp rõ. Đất có độ pH là 4,60-6,02 hơi chua, lượng mùn tầng mặt tương đối nghèo 2,28-2,34%; lượng đạm nghèo 0,11-0,15%; nghèo lân 1,60-2,20 (mgP2O5/100g); lượng K2O trung bình khá từ 4,70-12,00 (mgK2O/100g) [11]. Trà hoa vàng ở Cúc Phương - Ninh Bình Trà hoa vàng ở Vườn Quốc gia Cúc Phương gồm 2 loài: Camellia cucphuongensis và Camellia flava.
Camellia cucphuongensis là loài cây gỗ nhỏ, cao 3-6m. Lá hình bầu dục dài 6-12cm, rộng 2,5-4,5 cm; đỉnh lá nhọn dài khoảng 1,5cm; gốc lá tròn hay hình nêm rộng; chất lá dày, bóng và dai; gân bên 7-9 cặp. Hoa màu vàng nhạt, có cuống dài 5-7 mm, có lông. Mùa hoa kéo dài từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau.
Loài này ưa ẩm mọc trong các thung lũng của rừng nhiệt đới ở độ cao 300-400 m (khu vực gần hồ Mạc thuộc Vườn Quốc gia Cúc Phương).