CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU VỀ HỌ TẦM GỬI Họ Tầm gửi hay họ Tằm gửi hoặc họ Chùm gửi (danh pháp khoa học: Loranthaceae) là một họ thực vật có hoa, được các nhà phân loại học công nhận rộng khắp. Nó chứa khoảng 68-77 chi và 950-1.000 loài cây thân gỗ, phần nhiều trong số đó là các cây bán ký sinh. Có ba loài sinh sống trên mặt đất là Nuytsia floribunda – cây giáng sinh của Australia, Atkinsonia ligustrina – một loài cây bụi rất hiếm của dãy núi Blue tại Australia và một loài ở Trung và Nam Mỹ là Gaiadendron punctatum.
Ngoại trừ ba loài trên thì tất cả còn lại đều có cách mọc và phát triển trên các cây khác, mặc dù chúng cũng có lá xanh để có thể tự quang hợp. Vùng cận nhiệt đới là khí hậu “ưa thích” của loài này, tuy nhiên chúng cũng sinh sống tốt trong các khu vực có khí hậu nhiệt đới[2]. ĐẠI CƯƠNG VỀ CÂY TẦM GỬI: 1. Tên gọi [8] Tên khoa học: Taxillus chinensis (DC.) Danser Tên thông thường: Tầm gửi, Mộc vệ trung quốc, Chùm gửi.
Theo phân loại thực vật: - Giới : Thực vật (Plantae) - Bộ : Đàn hương (Santalales) - Họ : Tầm gửi (Loranthaceae) Hình 1. Tiêu bản cây Tầm gửi 1. Mô tả thực vật [3] Cây Tầm gửi có thân gỗ, giòn, cành có thể chia đốt, không có lông đến lông tơ. Lá màu xanh lục, đơn, nguyên, mọc đối hoặc chụm ba (ít khi giảm thành vảy hoặc không có lá), phiến lá hình mác đến oval, gân lá hình lông chim hoặc song song.
Hoa lưỡng tính hoặc đơn tính. Cụm hoa dạng xim, bông, chùm, tán mọc ở kẽ lá bắc (hai lá bắc hợp sinh trông giống như một đài phụ bên 5 ngoài đài hoa). Quả mọng hay quả nạc, vỏ thường có chất dính giúp cho việc phát tán trên thân cây chủ. 1 – 3 hạt, không có vỏ, nhiều nội nhũ, có 1 – 3 phôi khá phân hoá.
Hầu hết hạt của các loại tầm gửi đều được phủ bởi 1 lớp chất lỏng sền sệt trên bề mặt, điều này cho phép chúng bám được trên cây chủ. Lá và quả của cây Tầm gửi. Phân bố và cách trồng [4] Theo nhiều nghiên cứu thì cây tầm gửi đã xuất hiện từ hàng nghìn năm nay, có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới ẩm và là một phần quan trọng đóng góp vào hệ sinh thái các khu rừng già. Cây tầm gửi là loại cây mọc hoang dại thường do chim chóc hoặc gió mang hạt đến và phát triển trên cây chủ.
Thời xưa loại cây này con người không thể nào trồng chủ động được nên những cây nào có tầm gửi mọc họ thường nói là cây lộc trời. Hiện nay giống cây này có thể trồng bằng phương pháp ghép cành nhưng tỷ lệ thành công vẫn khá thấp. Để lấy được cây tầm gửi ghép lên thân cây gạo bạn cần sử dụng phần thân của chúng với những dây bánh tẻ có phần rễ bên dưới và cấy ghéo vào thân cây chủ đã chuẩn bị sẵn. Khi ghép bạn cần đục thủng phần vỏ thân sao cho vừa với cành cây tầm gửi rồi tiến hành ép vào và sử dụng băng dính dính chặt với nhau.
Tiếp sau đó bạn sử dụng bao nilon sạch sẽ phủ bên ngoài để giữ ẩm khoảng 2 tháng cây sẽ mọc được Với việc trồng cây tầm gửi nên được thực hiện vào các tháng mùa xuân (tháng 3-5) là thích hợp nhất cho tầm gửi phát triển. Việc chăm sóc cây tầm gửi thường có liên quan chặt chẽ với việc chăm sóc cây chủ. Chính vì thế tùy vào từng loại cây chủ bạn trồng tầm gửi mà có chế độ chăm sóc phù hợp sẽ giúp tầm gửi bên trên phát triển một cách tốt nhất. GIÁ TRỊ SỬ DỤNG CỦA CÂY TẦM GỬI: 1.
Dùng làm thuốc chữa bệnh [13] Trong dân gian, lá của tầm gửi trên cây khế được dùng phối hợp với lá chè nấu nước uống trị ho[10]. Ở Ấn Độ, người ta dùng lá giã nát đắp trị chỗ đau và loét. Ở Malaysia, Tầm gửi được dùng làm thuốc cho phụ nữ mau chóng hồi phục sau sinh, chữa vết thương và lở loét. Ở Indonesia, người ta còn dùng Tầm gửi để chữa ung thư.
Đa số các loài tầm gửi đều có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau nhức xương khớp, tăng huyết áp, cơ nhục do phong thấp hoặc do chấn thương , té ngã, rối loạn tâm thần. Một số loài có tác dụng an thai, thúc sữa sau sinh. Theo y học hiện đại, tầm gửi có tác dụng chống viêm, giảm đau, chống ôxy hóa và bảo vệ gan[16]. Tác dụng dược lý Bộ phận lá và cành của cây tầm gửi sẽ được sử dụng làm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh cho mọi người.
Thông thường chúng ta cũng có thể nhìn thấy lá và cành của cây tầm gửi được phơi khô, sau đó sử dụng làm thuốc hỗ trợ điều trị bệnh[8]. Trong lá và cành cây tầm gửi có các chất như: Trans-phytol, alpha- tocopherol quinone, afzeline, quercitrin, catechin và quercituron[3]. Trong đó hoạt chất catechin trong cây tầm gửi có tác dụng ngăn chặn sự hình thành sỏi canxi, rất tốt cho những bệnh nhân mắc sỏi thận, sỏi bàng quang, sỏi tiết niệu[3]. NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA HỌ TẦM GỬI: 1.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới Theo bài viết “Các cây thuốc được dùng trong trung tâm nghiên cứu phát triển hoàng gia Kungkrabaen, tỉnh Chanthaburi” của Wongsatit Chuakul và cộng sự, toàn bộ cây TGNN ký sinh trên cây Gòn (Ceiba pentandra (L.) được giã nát với nước vo gạo dùng để trị tiêu chảy, nước sắc từ cây TGNN ký sinh trên cây xoài (Magifera indica L.) dùng để trị tiểu đường[14]. Năm 2006, nhóm tác giả người Indonesia gồm Nina Artani, Yelli Ma’arifa và Muhammad Hanafi đã tách được hợp chất chống oxy hóa là quercitrin 7 (C21H20O11) và querceti (C15H10O7) từ cao ethanol của cây TGNN Dendrophthoe pentandra (L.) Miq ký sinh trên cây Khế (Averrhoa carambola)[12]. Cấu trúc hợp chất quercitrin (C21H20O11) và querceti (C15H10O7) 1. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, thời gian qua có một số công trình nghiên cứu về Tầm gửi đã được công bố.
Năm 2009, nhóm nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Hạt đã tách được 2 hợp chất là β-sitosterol, β-sitosteryl arachidate từ lá Tầm gửi ký sinh trên cây Mít (Artocarpus heterophyllus Lamk. Đây là lần đầu tiên hợp chất β-sitosteryl arachidate được cô lập trong chi Dendrophthoe. Dung dịch của β-sitosteryl arachidate ở nồng độ 10-3 M đến 10-4 M được biết có tác dụng bảo vệ tế bào MT-4 khỏi sự tấn công của virut HIV[7]. Cấu trúc hợp chất β-sitosterol và β-sitosteryl arachidate Năm 2010, Phạm Văn Ngọt và cộng sự nghiên cứu khả năng kháng khuẩn của loài này; bước đầu cho thấy cao ethyl acetate được điều chế từ Dendrophthoe pentandra ký sinh trên cây Xoài (Mangifera indica) có hoạt tính kháng khuẩn đối với Staphylococcus aureus ATCC 29213, Staphylococcus aureus kháng 8 methycilin (MRSA) ATCC 43300 và Bacillus subtilis PY 79 ở nồng độ 1024 µg/ml [6].
Năm 2011, Phạm Văn Ngọt và cộng sự cho biết: - Nước sắc của loài TGNN ký sinh trên cây Mít, Xoài, Dâu Tằm không có khả năng kháng Escherichia coli, Klensiella pneumoniae; - Nước sắc loài TGNN ký sinh trên cây Dâu tằm có hoạt tính kháng Bacillus subillis, Staphylococus aureus ở mức yếu; không có hoạt tính kháng Pseudomomas aeruginosa; - Nước sắc loài TGNN ký sinh trên cây Mít, Xoài có hoạt tính kháng khuẩn Bacillus subillis ở mức yếu; kháng Staphylococus aureus và Pseudomomas aeruginosa ở mức trung bình; - Cao khô li trích từ loài TGNN kí sinh trên cây Mít, Xoài, Dâu tằm ở nồng độ 1.000µg/ml đều có hoạt tính gây độc dòng tế bào ung thư cổ tử cung HeLa, dòng tế bào ung thư phổi NIC – H460 và tế bào ung thư vú MCF – 7[6]. Năm 2015 nhóm tác giả Nguyễn Thị Hằng và Trần Thị Thanh Xuân khi nghiễn cưu hoạt tính kháng khuẩn kháng ung thư của loại Tầm gửi Nam nhỉ cho biết : loài tầm gửi Năm nhị thể hiện hoạt tính kháng khuẩn ở 100 /ml của các mẫu cao nước và cao etanol. Tuy nhiên loại Tầm gửi năm nhị chưa thể hiện hoạt tính gây độc tế bào ung thư tại nồng đồ khảo sát này Trong khi đó công trình nghiên cứu về loài Tầm gửi Đại cán Nam bộ ( Macrosolen cochinchinnesis (lour) Van tiegh) ký sinh trên cay mít rất hạn chế. Theo tôi biết thì năm 2010 ,tác giả Khuất Thư Nga đã nghiên cứu đặc điểm và thành phần hóa học của cây tầm gởi ( Macrosolen cochinchinnesis (lour) Van tiegh) họ Tầm gửi ( Lourantheceae) ký sinh trên cây mít.
Song kết quả công trình nghiên cứu chưa đề cập được thành phần hóa học của các dich chiết từ lá và thân Tầm gửi[7]. 9 CHƯƠNG 2 NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. NGUYÊN LIỆU, DỤNG CỤ, HÓA CHẤT VÀ SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU 2. Thu mẫu và xử lý mẫu nguyên liệu Nguyên liệu để nghiên cứu là lá cây Tầm gửi được thu hái tại quận Liên Chiểu, TP.
Lựa chọn thu hái dạng lá tươi. Nguyên liệu sau khi thu hái được phơi khô và xay mịn. Lá tươi, lá khô và bột lá xay mịn (từ trái sang phải) sau khi thu hái 2. Thiết bị, dụng cụ, hóa chất Hóa chất Bảng 2.
Tên các hóa chất đã sử dụng STT Tên hóa chất Độ tinh khiết Nguồn gốc 1 Hexane Tinh khiết Trung Quốc 2 Ethyl acetate Tinh khiết Trung Quốc 3 Ethanol 96% Tinh khiết Trung Quốc 4 Diclometan Tinh khiết Trung Quốc 5 Dung dịch H2SO4 (98%) Tinh khiết Trung Quốc 6 (Bi(NO3)3.H2O 98% Trung Quốc 7 KI Tinh khiết Trung Quốc 8 Dung dịch HCl đậm đặc Tinh khiết Trung Quốc 9 HgCl2 Tinh khiết Trung Quốc 10 Dung dịch NaOH Tinh khiết Trung Quốc 11 AgNO3 99,8% Trung Quốc 10 12 Dung dịch NH4OH Tinh khiết Trung Quốc 13 Vanillin Tinh khiết Trung Quốc 14 Methanol Tinh khiết Trung Quốc Dụng cụ, thiết bị nghiên cứu - Các thiết bị: Tủ sấy, cân phân tích, máy cô quay chân không, bếp điện, bếp cách thủy. - Thiết bị phân tích: Máy đo sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS, máy đo phổ UV- VIS, Đèn UV bước sóng 254 và 365 nm. - Các dụng cụ thí nghiệm khác như: Cốc thủy tinh, bình tam giác, bếp cách thuỷ, cốc sứ, phễu chiết, các loại pipet, cối chày sứ, giấy lọc, bình hút ẩm, bản mỏng, ống đong,. Thiết bị sắc ký khí ghép khối phổ GC-MS Hình 2.