Luận văn ThS: Nâng cao năng lực cạnh tranh thanh long Bình Thuận trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Luận văn thạc sĩ phân tích sâu sắc các yếu tố và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho thanh long Bình Thuận trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

Chuyên ngành

Quản lý Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

158
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực cạnh tranh thanh long Bình Thuận

Thanh long Bình Thuận là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Năng lực cạnh tranh của thanh long được hiểu là khả năng duy trì và mở rộng thị phần trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Bình Thuận sở hữu nhiều lợi thế tự nhiên về khí hậu, thổ nhưỡng phù hợp cho trồng thanh long. Sản lượng thanh long của tỉnh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản lượng cả nước. Tuy nhiên, cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi cải thiện đồng bộ về chất lượng, mẫu mã, giá thành và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Nghiên cứu này phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp cho ngành thanh long tỉnh Bình Thuận.

1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh trong nông nghiệp

Năng lực cạnh tranh trong nông nghiệp là khả năng sản phẩm duy trì ưu thế trên thị trường so với đối thủ. Khái niệm này bao gồm nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm, giá thành sản xuất, năng suất lao động và khả năng tiếp cận thị trường. Đối với sản phẩm nông sản xuất khẩu, năng lực cạnh tranh còn thể hiện qua khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế về an toàn thực phẩm. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh giúp xác định điểm mạnh, điểm yếu của sản phẩm. Từ đó xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế.

1.2. Vị thế của thanh long Bình Thuận trong ngành nông nghiệp

Bình Thuận là tỉnh có diện tích trồng thanh long lớn nhất Việt Nam, tập trung chủ yếu tại huyện Hàm Thuận Nam và Hàm Thuận Bắc. Sản phẩm thanh long Bình Thuận đã được xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU. Tỉnh có lợi thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi, truyền thống canh tác lâu đời. Thanh long Bình Thuận đã được cấp chỉ dẫn địa lý, tạo giá trị thương hiệu riêng. Tuy nhiên, sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết chuỗi giá trị. Đây là thách thức lớn trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt.

II. Phân tích thực trạng và thách thức cạnh tranh thanh long

Thực trạng sản xuất thanh long Bình Thuận đang đối mặt nhiều thách thức. Diện tích trồng tăng nhanh nhưng chất lượng chưa đồng đều giữa các vùng. Nhiều nông dân vẫn canh tác theo kinh nghiệm, chưa áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP. Giá thành sản xuất cao do chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng. Khả năng chế biến sâu còn hạn chế, chủ yếu xuất khẩu dạng tươi. Thị trường xuất khẩu phụ thuộc lớn vào Trung Quốc, tiềm ẩn rủi ro khi chính sách thương mại thay đổi. Cạnh tranh từ các quốc gia khác ngày càng quyết liệt. Thái Lan, Malaysia đầu tư mạnh vào công nghệ và marketing. Mẫu mã bao bì sản phẩm chưa chuyên nghiệp. Năng lực marketing của địa phương và thương lái còn yếu.

2.1. Thực trạng sản xuất và tiêu thụ thanh long

Sản lượng thanh long Bình Thuận đạt hàng trăm nghìn tấn mỗi năm, chiếm hơn 70% sản lượng cả nước. Phần lớn sản phẩm được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, tỷ lệ chế biến sâu còn thấp. Thị trường xuất khẩu chính là Trung Quốc, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Hàn Quốc đòi hỏi tiêu chuẩn cao về an toàn thực phẩm. Giá thanh long biến động mạnh theo mùa vụ và thị trường. Nông dân chịu nhiều rủi ro về giá cả và đầu ra sản phẩm. Liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp chế biến còn lỏng lẻo.

2.2. Các thách thức chính trong cạnh tranh quốc tế

Thanh long Bình Thuận面临 nhiều thách thức trong cạnh tranh quốc tế. Tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ngày càng khắt khe hơn, đòi hỏi sản phẩm phải đạt chứng nhận quốc tế. Công nghệ bảo quản và chế biến còn落后 so với các nước phát triển. Chi phí logistics cao làm giảm lợi thế về giá. Thương hiệu thanh long Việt Nam chưa được xây dựng mạnh trên thị trường quốc tế. Cạnh tranh từ các quốc gia khác như Thái Lan, Israel ngày càng gay gắt. Rào cản kỹ thuật về kiểm dịch thực vật cũng là thách thức lớn. Cần có giải pháp đồng bộ để vượt qua các thách thức này.

III. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh thanh long Bình Thuận

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Đầu tiên, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất như hệ thống tưới nhỏ giọt, nhà kính, đèn chiếu sáng kích thích ra hoa. Thứ hai, mở rộng diện tích đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP để đáp ứng yêu cầu thị trường khó tính. Thứ ba, phát triển ngành chế biến sâu như nước ép, rượu vang, sấy khô để tăng giá trị gia tăng. Thứ tư, xây dựng thương hiệu mạnh cho thanh long Bình Thuận trên thị trường quốc tế. Thứ năm, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào Trung Quốc. Thứ sáu, tăng cường liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ. Thứ bảy, đào tạo nâng cao trình độ nông dân về kỹ thuật canh tác tiên tiến.

3.1. Ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm

Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản xuất. Hệ thống tưới nhỏ giọt giúp tiết kiệm nước, tăng năng suất. Công nghệ bảo quản sau thu hoạch giúp kéo dài thời gian sử dụng, giảm tổn thất. Áp dụng đèn LED chiếu sáng kích thích ra hoa nghịch vụ, tăng thu nhập cho nông dân. Đầu tư nhà kính giúp kiểm soát sâu bệnh, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Nâng cấp dây chuyền chế biến hiện đại để sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng. Đào tạo nông dân sử dụng thành thạo các thiết bị công nghệ mới. Cần có chính sách hỗ trợ đầu tư công nghệ cho nông dân và doanh nghiệp.

3.2. Phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu

Marketing địa phương là công cụ quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần xây dựng thương hiệu mạnh cho thanh long Bình Thuận trên thị trường quốc tế. Tham gia các hội chợ quốc tế để quảng bá sản phẩm. Xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc để tạo niềm tin với người tiêu dùng. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ. Phát triển thương mại điện tử để tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng quốc tế. Nâng cao năng lực của thương lái trong thu mua và phân phối. Xây dựng chiến lược marketing bài bản, chuyên nghiệp cho sản phẩm thanh long.

IV. Kết luận và triển vọng phát triển thanh long Bình Thuận

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh và phân tích thực trạng thanh long Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu cho thấy thanh long Bình Thuận có nhiều lợi thế cạnh tranh nhưng cũng面临 nhiều thách thức. Các giải pháp đề xuất tập trung vào ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng, phát triển thương hiệu và đa dạng hóa thị trường. Triển vọng phát triển thanh long Bình Thuận rất lớn nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp. Cần sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp và nông dân. Chính sách hỗ trợ của nhà nước đóng vai trò quan trọng. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là chìa khóa thành công. Tương lai, thanh long Bình Thuận có thể trở thành sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

4.1. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận văn hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh nông sản. Nghiên cứu xây dựng khung phân tích năng lực cạnh tranh áp dụng cho sản phẩm thanh long. Về thực tiễn, đề tài cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng thanh long Bình Thuận. Các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện địa phương. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý và nông dân. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp khác.

4.2. Hướng phát triển và đề xuất cho tương lai

Thanh long Bình Thuận cần hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn. Nghiên cứu tiếp theo nên tập trung đánh giá hiệu quả các giải pháp đã đề xuất. Cần xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị hiệu quả giữa nông dân và doanh nghiệp. Phát triển sản phẩm organic để đáp ứng xu hướng tiêu dùng xanh. Đầu tư mạnh vào công nghệ chế biến sâu để tăng giá trị gia tăng. Xây dựng chiến lược marketing dài hạn cho thương hiệu thanh long Bình Thuận. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành. Cần có cơ chế hỗ trợ tài chính cho nông dân chuyển đổi sản xuất theo tiêu chuẩn quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ nâng cao năng lực cạnh tranh của thanh long bình thuận trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là quốc gia có lợi thế và tiềm năng về điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu, tài nguyên để phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực dồi dào cũng góp phần tạo nên sự phát triển và sản xuất nhiều loại nông sản có giá trị cao. Tính đến đầu năm 2019, Liên Hợp Quốc đã thống kê dân số hiện tại của Việt Nam là 96.926 người với độ tuổi trung bình là 31.

Trong đó, 35,92% dân số sống ở thành thị (34.961 người vào năm 2018), như vậy gần 2/3 dân số Việt Nam là tập trung ở vùng nông thôn – nơi đây phát triển chủ yếu là ngành nông nghiệp. Nông sản là nguồn được xuất khẩu nhiều và đem lại thu nhập ngoại tệ lớn cho đất nước. Nông nghiệp đem lại việc làm và cuộc sống ổn định cho người dân sống ở khu vực nông thôn. Một mặt hàng phát triển sẽ kéo theo rất nhiều ngành hỗ trợ phát triển theo.

Nông sản Việt Nam rất đa dạng và phong phú, việc xuất khẩu nông sản đem lại rất nhiều lợi ích cho đất nước. Chúng ta có thể phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ chế biến nông phẩm, các ngành về phân bón, … góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Ngoài ra, trao đổi hàng hóa là động lực thúc đẩy mối quan hệ thương mại, gắn kết thương mại, công nghệ sản xuất giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Tuy nhiên, các mặt hàng nông sản của Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi xuất khẩu ra thị trường thế giới về giá cả, về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.

Nhà nước cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ, bảo hộ các mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhưng các doanh nghiệp vẫn khặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng tới người nông dân. Hiện nay, cây thanh long đã là một loại cây trồng đem lại nguồn thu nhập chính cho đa số hộ nông dân, đặc biệt là nông dân tỉnh Bình Thuận. Ngày 15/11/2006 Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 786/QĐ-SHTT đăng bạ tên gọi xuất xứ hàng hóa “Bình Thuận” (chỉ dẫn địa lý) dùng cho quả thanh long, thanh long tại xvi tỉnh Bình Thuận được nhà nước bảo hộ vô thời hạn trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam và UBND tỉnh Bình Thuận là cơ quan quản lý tên gọi xuất xứ hàng hóa. Cây thanh long mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập cao cho người dân nên dần dần được phát triển và mở rộng.

Thanh long được trồng tại nhiều quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Đài Loan, … và các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, thanh long được trồng rộng rãi trên cả nước ở khoảng 32 tỉnh, thành phố rải rác trên lãnh thổ. Trong đó, sản lượng thanh long của Bình Thuận chiếm hơn 86% tổng sản lượng thanh long của các tỉnh thành. Thanh long được trồng ở tỉnh Bình Thuận đã được nhà nước đăng ký thương hiệu trên toàn thế giới, điều này thể hiện thanh long Bình Thuận đã có được danh tiếng, chỗ đứng về chất lượng và hương vị trên thế giới.

Tuy nhiên, có khá nhiều khu vực đã trồng thanh long cả trong và ngoài nước, nên việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi. Theo Tổng cục Hải quan, các tháng đầu năm 2018, Tổng giá trị xuất khẩu của rau – củ – quả của Việt Nam chiếm đa số là thanh long, nhãn, xoài. Trong đó, thanh long chiếm 32% tổng giá trị xuất khẩu, gấp khoản 4 lần so với nhãn (121 triệu USD) và xoài (104 triệu USD). Trong đó, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.

82 – 83% sản lượng còn lại xuất theo con đường "tiểu ngạch" sang thị trường Trung Quốc. Việc xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc này mặc dù có ưu điểm là thủ tục giao hàng và thanh toán dễ dàng, phù hợp cho nhiều hộ kinh doanh nhỏ lẻ, song giá bán bấp bênh. Bình Thuận với diện tích trồng thanh long lớn nhất trong cả nước và tỷ lệ người nông dân phụ thuộc vào cây thanh long cũng lớn nhất trong cả nước nên sẽ chịu nhiều tác động nếu có bất kỳ biến động trong thị trường thanh long. Việc hội nhập kinh tế, Việt Nam gia nhập nhiều vào các tổ chức thương mại thế giới, thị trường tiêu thụ được mở rộng.

Việt Nam chính thức gia nhập WTO từ năm 2007, các ngành kinh tế của chúng ta đã được phát triển vượt trội, trong đó có xuất khẩu nông sản. Việt Nam được biết là một nền nông nghiệp phát triển nhiều loại trái cây. Thanh long của tỉnh Bình Thuận là một trong các loại trái cây phát triển nổi bậc của tỉnh Bình Thuận nói riêng và Việt Nam nói chung. Đây là loại trái cây được ưu xvii chuộng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở châu Á.

Thị trường tiêu thụ chính là các quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Quốc. Do đó, chúng ta cần nhìn lại thực tế thanh long của tỉnh Bình Thuận và có những biện pháp nhằm nâng cao giá trị xuất khẩu quả thanh long hơn nữa khi mà Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế. Quả thanh long cần phải đạt những chỉ tiêu gì để đẩy mạnh tiêu thụ trên thị trường và thu hút được người tiêu dùng. Những năm gần đây Việt Nam đã rất tích cực tham gia vào các hoạt động thương mại kinh tế quốc tế.

Những hoạt động này thúc đẩy vị thế của Việt Nam ta trên thương trường quốc tế. Ngày 5/11/2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Đây là nghị quyết lấy hội nhập về kinh tế quốc tế làm đầu, với sự tham gia của toàn dân đặc biệt là lực lượng lao động tri thức để học hỏi, tiếp thu các kiến thức mới phát triển đất nước. Việc thu mua quả thanh long chủ yếu là do tư nhân đứng ra phụ trách, nên khó tránh khỏi việc thao túng thị trường, đẩy giá của quả thanh long tại địa phương xuống thấp.

Thanh long được trồng nhiều tại các địa phương khác nên người tiêu dùng có rất nhiều sự lựa chọn. Bên cạnh đó, ngày nay các địa phương khác cũng đã có nhiều cải cách nhằm nâng cao chất lượng quả thanh long nên việc cạnh tranh trong thị trường giữa quả thanh long Bình Thuận với các địa phương trồng thanh long tại Việt Nam và tại các quốc gia khác ngày càng diễn ra gay gắt và khốc liệt. Thanh long Bình Thuận đang dần mất đi thị thế trên thị trường nếu như không có các biện pháp cải tiến về chất lượng, về bảo quản, về giá cả, … Đó là các cơ hội và thách thức mà người nông dân trồng thanh long cả nước nói chung và tại Bình Thuận nói riêng đang đối mặt. Vì vậy đề tài: “Nâng cao năng lực cạnh tranh của thanh long Bình Thuận trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế” được thực hiện nhằm giải quyết và phát triển đầu ra cho quả thanh long tại Bình Thuận.

Các công trình nghiên cứu có liên quan xviii Nhiều tác giả đã có các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các loại trái cây, trong đó có thanh long từ trước đến nay. Bài viết có kế thừa và phát triển dựa trên các báo cáo, văn bản, luận văn khác có cùng chủ đề nghiên cứu: a. Các luận án nghiên cứu - Nguyễn Viết Bằng, (2015), “Các thành phần tài sản thương hiệu trái cây tươi tại thị trường Việt Nam: trường hợp thanh long Bình Thuận”, Luận án Tiến sĩ kinh tế. Nội dung: Tác giả đã khám phá và phân tích các thành phần tài sản thương hiệu thanh long Bình Thuận.

Các thành phần bao gồm: nhận biết thương hiệu, liên tưởng thương hiệu, chất lượng cảm nhận, long trung thành thương hiệu và an toàn cảm nhận. Ở đề tài này, tác giả đã nhấn mạnh tác động của thương hiệu đến khả năng thu hút người tiêu dùng. Người tiêu dùng tin tưởng và yêu thích sử dụng thanh long Bình Thuận khi họ nhận biết được những đặc điểm nổi trội thông qua hình dáng, màu sắc, hương vị, logo so với những thanh long ở các địa phương khác. Khi người tiêu dùng trung thành với thanh long Bình Thuận sẽ gia tăng tình cảm và ý định lựa chọn thanh long Bình Thuận thay vì các loại thanh long khác.

Có thể kết luận rằng: Phát triển thương hiệu chính là nâng cao khả năng cạnh tranh của thanh long Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay. - Nguyễn Thị Phương Nhung, (2014), “Khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trong những năm qua và giải pháp thúc đẩy khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam đến năm 2020”, Báo cáo thực hành nghề nghiệp lần 2. Nội dung: đề tài tập trung chủ yếu vào phân tích năng lực và khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên các thị trường quốc tế. Tác giả đã hệ thống những lý luận chung về cạnh tranh và sức cạnh tranh của mặt hàng nông sản.

Tác giả phân tích, đánh giá điểm mạnh điểm yếu của một số mặt hàng nông sản thiết yếu trong giai đoạn hiện tại để có những giải pháp phát triển khả năng cạnh tranh đến năm 2020. Những mặt hàng đó là: gạo, chè, cà phê, hồ tiêu, cao su. Dựa vào những đánh giá của tác giả về đặc điểm thị trường nông sản trên thế giới cũng như khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam, tôi áp dụng các đặc điểm này vào thanh xix long Bình Thuận trong bài viết này nhằm phát triển khả năng cạnh tranh của thanh long Bình Thuận. - Ninh Đức Hùng, (2013), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ kinh tế.

Nội dung: Ở luận án này, tác giả đã thể hiện được năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm trái cây và năng lực cạnh tranh của địa phương trong việc cung cấp các dịch vụ công và hành chính công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh trái cây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ