chương 1 bao gồm: (1) Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (3) Câu hỏi nghiên cứu, (4) Phương pháp nghiên cứu, (5) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (6) Ý nghĩa, đóng góp mới của kết quả nghiên cứu và (7) Kết cấu của luận án. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Năm 2017, hệ sinh thái khởi nghiệp của Việt Nam có xu hướng được cải thiện. Các yếu tố về cơ sở hạ tầng, năng động thị trường, văn hóa và chuẩn mực xã hội và các Quy định của Chính phủ được đánh giá cao (GEM, 2017).
Các yếu tố về chương trình hỗ trợ của Chính phủ, chuyển giao công nghệ, Chính sách của Chính phủ có sự suy giảm qua các năm; không phải các yếu tố này kém đi mà do sự kì vọng về mức độ cải thiện trong hệ sinh thái khởi nghiệp chưa được đáp ứng (xem Bảng 1.1, Phụ lục, trang 34). Một hệ thống chính sách tốt và hiệu quả thúc đẩy khởi nghiệp không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà là của nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam, kinh tế tư nhân đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Thống kê cho thấy khoảng 97% doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) đóng góp 40% ngân sách Nhà nước và tạo điều kiện việc làm cho 50% lao động (Nguyễn Trọng Hoài, 2016).
Khởi nghiệp là sự tạo ra những doanh nghiệp mới (Gartner, 1985). Do đó, doanh nghiệp khởi nghiệp (từ đây viết tắt là DNKN) là bước đầu cho sự hình thành, phát triển và trở thành các doanh nghiệp trưởng thành sau này. Năm 2016 được Việt Nam xác định là năm quốc gia khởi nghiệp và giai đoạn 2017 – 2020 được xem là thời kì vàng cho hoạt động khởi nghiệp1. Theo 1 http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/khoi-nghiep-o-viet-nam-kho-hay-de- 122780.html 123doc -2- thống kê của GEM (2017), tỷ lệ duy trì hoạt động kinh doanh sau khi khởi sự dưới 3,5 năm chiếm 20,8% (Hình 1.
Mặc dù đã được cải thiện so với năm 2016 là 12,7% nhưng tỷ lệ khởi nghiệp thành công vẫn còn rất thấp. Giai đoạn khởi sự kinh doanh (23,3%) Ý định Khởi sự Chủ/Quản lý hoạt Chủ/Quản lý hoạt động khởi sự kinh doanh động kinh doanh kinh doanh đã ổn định 25% (dưới 3 mới (dưới 3,5 năm) (trên 3,5 năm) 24,7% tháng) 20,8% 2,5% Quan niệm Thành lập Ổn định Hình 1. Phát triển kinh doanh ở Việt Nam năm 2017 Nguồn: GEM (2017) khảo sát người trưởng thành ở Việt Nam Nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của các DNKN trong giai đoạn khởi sự rất đa dạng, có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản như: chiến lược kinh doanh không phù hợp, thiếu hiểu biết về pháp lý, bài toán “gọi vốn” và rào cản thủ tục hành chính (Ý Nhi, 2017). Tuy DNKN nhận được nhiều ưu tiên từ chính sách hỗ trợ phát triển của Chính phủ, sự quan tâm của xã hội và ủng hộ của các chủ thể liên quan: Chính phủ đã ban hành Quyết định số 844/QĐ-TTg về Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đến năm 2025; Nghị định số 35/NQ-CP về Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị định số 39/2018/NĐ-CP về quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, v.
Thực tế, nhiều DNKN vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận thông tin và nguồn lực. Thứ nhất, DNKN gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận vốn từ ngân hàng và các quỹ đầu tư, nguồn vốn hạn hẹp tự có chủ yếu đến từ các thành viên sáng lập. Thứ hai, DNKN không đủ điều kiện đầu tư phòng thí nghiệm, máy móc thiết bị để nghiên cứu và phát triển ý tưởng, sản phẩm mới. Thứ ba, DNKN còn hạn chế về kĩ năng quản trị, điều hành kinh doanh, xúc tiến, quảng bá sản phẩm vì người chủ/quản lý chủ yếu được đào tạo từ ngành kĩ thuật, công nghệ thông tin.
123doc -3- Cuối cùng, nhiều DNKN còn gặp khó khăn trong việc thực hiện thủ tục hành chính (đăng kí kinh doanh, đất đai, giấy phép kinh doanh…), bảo hộ sở hữu trí tuệ (đăng kí bảo hộ sản phẩm sở hữu trí tuệ), tài chính (tiêu chuẩn kế toán, hóa đơn, kê khai thuế, v. Như vậy, DNKN rất khó tiếp cận thông tin và nguồn lực để xem xét và quyết định đầu tư (Hồ Quang Huy, 2018). Trong khi đó, thông tin được cung cấp từ các cơ quan Nhà nước còn rất hạn chế, nhiều DNKN thụ động khi tiếp nhận thông tin. Theo kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), mối quan hệ giữa doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong khả năng tiếp cận thông tin và nguồn lực, liên quan đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.2 Vấn đề xây dựng mạng lưới quan hệ trong hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam đã được cơ quan Chính phủ quan tâm (ví dụ, Bộ Khoa học & Công nghệ, Bộ Kế hoạch & Đầu tư).
Hiện tại, mạng lưới kết nối khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã được hình thành với ở phạm vi trong và ngoài nước3. Vì vậy, DNKN chủ động xây dựng mạng lưới quan hệ trong hệ sinh thái khởi nghiệp là rất cần thiết. Thông qua mạng lưới quan hệ, DNKN sẽ dễ dàng tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ (nguồn vốn tài chính, hoàn thiện công nghệ, thương mại hóa sản phẩm, v. Một chủ đề mới gần đây đang thu hút nhiều sự quan tâm của các học giả trong phát triển lý thuyết khoa học đó là nghiên cứu đổi mới mô hình kinh doanh (từ đây viết tắt là BMI-Business Model Innovation) trong hoạt động khởi nghiệp, như nghiên cứu của Trimi & Berbegal-Mirabent (2012).
Mỗi doanh nghiệp trong ngành đều có một mô hình kinh doanh khác nhau, hoạt động dựa trên nguồn lực sẵn có. Các đối thủ cạnh tranh khó có thể bắt chước hoặc sao chép mô hình kinh doanh khác để áp dụng cho doanh nghiệp của họ (theo quan điểm nguồn lực). Trong giai đoạn ban đầu, mô hình kinh doanh của DNKN chưa ổn định, liên tục thay đổi nhằm 2 https://baomoi.com/bao-dam-nhu-cau-tiep-can-thong-tin-cua-doanh-nghiep-khoi-nghiep/c/25023396.epi 3 https://ictnews.vn/cntt/cong-bo-mang-luoi-doi-moi-sang-tao-viet-nam-2018-100-tri-thuc-khoa-hoc-hien-ke- de-viet-nam-phat-trien-cmcn-4-0-171357.ict 123doc -4- thích ứng với sự biến động thị trường. Các thành phần của mô hình kinh doanh như: sản phẩm, công nghệ, khách hàng, đối tác, thị trường tiêu thụ, kênh phân phối, v.
chưa ổn định, DNKN luôn chủ động tìm kiếm hoặc cần sự trợ giúp từ các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Trong xu thế phát triển cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, công nghệ luôn thay đổi nhanh chóng. Vậy, làm sao DNKN có thể thích ứng và nắm bắt được cơ hội kinh doanh trong môi trường năng động như hiện nay? Vấn đề BMI cho các DNKN trở nên rất quan trọng vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển sau này. Ibarra & cộng sự (2017) cho rằng cách mạng cộng nghiệp lần thứ 4 ảnh hưởng đến mô hình kinh doanh, doanh nghiệp cần thực hiện BMI như định hướng dịch vụ, hệ sinh thái trong mạng lưới kết nối (networked ecosystems) và định hướng khách hàng.
Từ những chính sách Chính phủ đã ban hành, các thông tin và nguồn lực hỗ trợ cho các DNKN trở nên cấp thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện BMI, và quyết định sự thành công của DNKN. Theo Nghị định số 39/2018/NĐ-CP, hỗ trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo bao gồm hỗ trợ tư vấn sở hữu trí tuệ, hoàn thiện sản phẩn mới và mô hình kinh doanh mới, sử dụng cơ sở kĩ thuật, cơ sở ươm tạo, và khu làm việc chung. Thực tế cho thấy, vườn ươm doanh nghiệp đã góp phần giảm thiểu rủi ro khởi nghiệp, gia tăng khả năng tồn tại và phát triển cho DNKN (Phạm Tiến Đạt, 2018). Tại Việt Nam, việc thực BMI cho DNKN đã được quan tâm.
Trong thời đại kĩ thuật số, DNKN gắn liền với đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ. Do đó, thực hiện BMI là rất quan trọng, nhằm nâng cao kết quả hoạt động và gia tăng sự thành công trong khởi nghiệp. Thực tế, cơ quan Chính phủ đã đưa ra những giải pháp để thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo như tìm kiếm mô hình kinh doanh mới trên thế giới để áp dụng phù hợp tại Việt Nam. Một số giải pháp hỗ trợ như: tháo gỡ những nút 123doc -5- thắt cản trở khởi nghiệp đổi mới sáng tạo từ pháp lý, cơ chế hoạt động đến cơ sở hạ tầng và xây dựng thị trường riêng biệt cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo4.
Thông thường, kết quả hoạt động của DNKN trong giai đoạn đầu không cao. Các chỉ số tài chính đo lường kết quả hoạt động (ví dụ, ROE, ROA, ROS, ROI, v.) đều rất thấp. Do đó, có nhiều DNKN hoạt động không hiệu quả, đã rơi vào tình trạng phá sản, giải thể vì không có nguồn vốn bổ sung để duy trì hoạt động hoặc cầm cự. Ngoài ra, khả năng tiếp cận các nguồn vốn tài chính của DNKN từ các trung gian tài chính là rất khó khăn.
Vì vậy, thiếu vốn tài chính để hoạt động là nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ khởi nghiệp thất bại cao. Tóm lại, việc thực hiện BMI để thích ứng với sự thay đổi thị trường, cải thiện kết quả hoạt động, và góp phần gia tăng tỉ lệ khởi nghiệp thành công. Tuy nhiên, để thực hiện BMI, DNKN đòi hỏi phải có nguồn lực bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Và cũng trong giai đoạn đầu, DNKN thiếu nguồn lực khởi nghiệp đồng thời nhận được sự quan tâm hỗ trợ của Chính phủ.
Tuy nhiên, DNKN còn gặp nhiều khó khăn tiếp cận nguồn lực hỗ trợ bên ngoài. Vì vậy, ba câu hỏi nghiên cứu đặt ra là: (1) Làm thế nào để DNKN tiếp cận thông tin và nguồn lực hỗ trợ bên ngoài từ các cá nhân/tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp? (2) Nguồn lực hỗ trợ này có giúp DNKN thực hiện BMI và cải thiện kết quả hoạt động hay không? (3) DNKN thực hiện BMI có làm tăng kết quả hoạt động và gia tăng tỷ lệ khởi nghiệp thành công hay không? Để trả lời cho ba câu hỏi trên, vấn đề nghiên cứu về mạng lưới quan hệ (relationship network) của DNKN với các cơ quan Chính phủ và cá nhân/tổ chức hỗ trợ nhằm thực hiện BMI, cải thiện kết quả hoạt động là rất cần thiết được thực hiện trong bối cảnh hiện nay.vn/tin-tuc/giai-nut-that-cho-cac-mo-hinh-kinh-doanh-moi-va-khoi-nghiep-sang-tao 123doc -6- 1. Xuất phát từ khoảng trống lý thuyết qua lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam Vấn đề nghiên cứu sự đổi mới của doanh nghiệp thông qua mạng lưới quan hệ nhằm cải thiện kết quả hoạt động là một lĩnh vực được nhiều học giả quan tâm.