Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA CHUYÊN NGÀNH TRONG LĨNH VỰC TRỒNG TRỌT 1. Khái quát chung về thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực Trồng trọt 1. Khái niệm thanh tra Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thường được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với Nhà nước các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Trên cơ sở giữ nguyên khái niệm Thanh tra của Luật Thanh tra 2010, Luật Thanh tra năm 2022 tiếp tục quy định như sau: “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan thực hiện chức năng thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức các nhân.
Hoạt động thanh tra bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”. Khái niệm thanh tra chuyên ngành Luật Thanh tra năm 2022 quy định rõ: “Thanh tra chuyên ngành là thanh tra việc chấp hành luật chuyên ngành quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quy tắc quản lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực”. Như vậy, có thể hiểu, thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra. Trong đó, các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành sẽ xem xét, đánh giá, xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi quản lý theo ngành, lĩnh vực trong việc chấp hành các nội dung như: - Pháp luật chuyên ngành; - Quy định chuyên môn - kỹ thuật; - Quy tắc quản lý.
Khái niệm trồng trọt Nước ta là một trong những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển. Đa phần người dân từ thuở xa xưa đến bây giời vẫn gắn liền với cây lúa nước và các cây nông nghiệp để canh tác và làm ăn kinh tế. Như vậy, lĩnh vực trồng trọt ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế của quốc gia nên rất cần việc nhà nước ta đưa ra các chính sách đối với hoạt động trồng trọt của người dân. Luật trồng trọt năm 2018 quy định: “ Trồng trọt là ngành kinh tế - kỹ thuật trong nông nghiệp có liên quan đến việc gieo trồng cây nông nghiệp, cây cảnh và nấm ăn để phục vụ mục đích của con người”.[12] Nền nông nghiệp trồng trọt là một trong những ngành chủ chốt và có sự ảnh hưởng rất lớn đối với người nông dân khi tham gia hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Nông học hiện đại, chọn tạo giống cây trồng, hóa chất nông nghiệp như thuốc trừ sâu và phân bón, và phát triển công nghệ đã làm tăng mạnh sản lượng cây trồng. Vì vậy mà Nhà nước đã có nhiều chính sách đảm bảo phát triển trong lĩnh vực trồng trọt như: 14 - Thống kê, điều tra, xây dựng cơ sở dữ liệu về hoạt động trồng trọt; thông tin và dự báo thị trường; xây dựng chiến lược phát triển trồng trọt; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về hoạt động trồng trọt; - Xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập phục vụ nghiên cứu chính sách, nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực trồng trọt; - Ứng dụng khoa học và công nghệ đẩy mạnh phát triển ngành trồng trọt - Đào tạo nguồn nhân lực về khuyến nông cho vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn. Với tầm quan trọng của lĩnh vực trồng trọt nên tại Điều 5 Luật Trồng trọt năm 2018 cũng có quy định về chiến lược phát triển trồng trọt được xây dựng cho chu kỳ 10 năm, định hướng 20 năm; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Khái niệm Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt Thanh tra nói chung và thanh tra chuyên ngành nói riêng nhằm mục đích bảo đảm cho các quyết định quản lý được tuân thủ, xem xét hiệu quả của quản lý, là phương thức bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa; Là biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; Là hiện thân của kỷ cương, pháp luật; là cách thức phân tích đầy đủ nhất các nguyên nhân, động cơ, mục đích, tính chất, mức độ vi phạm.
Trên cơ sở phân tích khái niệm về thanh tra chuyên ngành và khái niệm về lĩnh vực trồng trọt tác giả luận văn xác định khái niệm thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt như sau: Thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước đối với cá nhân, tổ chức trong việc chấp hành pháp luật những quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành trồng trọt và lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của lĩnh vực trồng trọt. Đặc điểm thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt Thứ nhất ,là hoạt động thanh tra do các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực trồng trọt tiến hành, như Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Cục Trồng trọt, Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thanh tra bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thanh tra Cục trồng trọt, Thanh tra sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Các cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành lĩnh vực trồng trọt (Cục thuộc Bộ, Chi cục thuộc Sở). Thứ hai, đối tượng thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt là mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành trồng trọt. Thứ ba, nội dung của thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt là xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắc quản lý của lĩnh vực trồng trọt.
Khi xem xét, các cơ quan tiến hành có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm. Luật thanh tra năm 2022 đã được thông qua, tuy nhiên chưa đến ngày có hiệu lực thực hiện. Vì vậy hiện nay khi tiến hành thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực trồng trọt các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền vẫn căn cứ vào Luật Thanh tra năm 2010. Luật Thanh tra năm 2010 đã quy định cụ thể về thẩm quyền ra quyết định thanh tra; nội dung quyết định thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra, thanh tra viên… Thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành Thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành thực hiện theo quy định tại Điều 51 Luật Thanh tra, Điều 14 và 15 Nghị định số 07/2012/NĐ-CP.
Theo Điều 51 Luật Thanh tra 2010 quy định về thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành và phân công Thanh tra viên, người được 16 giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập như sau: Thẩm quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành và phân công Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập 1. Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra để thực hiện quyết định thanh tra. Khi xét thấy cần thiết, Bộ trưởng, Giám đốc sở ra quyết định thanh tra và thành lập Đoàn thanh tra. Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập theo sự phân công của Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
Trong trường hợp phân công Thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành tiến hành thanh tra độc lập thì Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành phải xác định rõ phạm vi, nhiệm vụ, thời hạn tiến hành thanh tra. Khi tiến hành thanh tra độc lập thì Thanh tra viên phải xuất trình thẻ thanh tra; người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành phải xuất trình thẻ công chức. Theo đó, chủ thể có quyền ra quyết định thanh tra chuyên ngành công thương là Chánh Thanh tra bộ, Chánh Thanh tra sở, Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành. Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có những nhiệm vụ 17 Căn cứ Điều 53 Luật Thanh tra 2010 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành như sau: Nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành “1.
Trong quá trình thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Tổ chức, chỉ đạo các thành viên Đoàn thanh tra thực hiện đúng nội dung quyết định thanh tra; b) Kiến nghị với người ra quyết định thanh tra áp dụng biện pháp thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của người ra quyết định thanh tra quy định tại Điều 55 của Luật này để bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao; c) Yêu cầu đối tượng thanh tra xuất trình giấy phép, đăng ký kinh doanh, chứng chỉ hành nghề và cung cấp thông tin, tài liệu, báo cáo bằng văn bản, giải trình về vấn đề liên quan đến nội dung thanh tra; d) Lập biên bản về việc vi phạm của đối tượng thanh tra; đ) Kiểm kê tài sản liên quan đến nội dung thanh tra của đối tượng thanh tra; e) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra cung cấp thông tin, tài liệu đó; … 2. Khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp quy định tại các điểm g, h, i, k và l khoản 1 Điều này thì Trưởng đoàn thanh tra phải quyết định hoặc kiến nghị hủy bỏ ngay việc áp dụng biện pháp đó 3. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, Trưởng đoàn thanh tra phải chịu trách nhiệm trước người ra quyết định thanh tra và trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình”.[11] Như vậy, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành có những nhiệm vụ được quy định tại khoản 1 Điều 53 nêu trên.