Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về địa vị pháp lý của công chức ngành thuế Chương 2: Thực trạng địa vị pháp lý của công chức thuế tại Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính Chương 3. Quan điểm và giải pháp đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý của công chức thuế tại Tổng cục Thuế, Bộ Tài chính 7 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG CHỨC NGÀNH THUẾ 1. Quan niệm về địa vị pháp lý của công chức thuế 1.
Khái niệm, đặc điểm công chức ngành thuế Khái niệm công chức Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nước tư bản phương Tây. Không có khái niệm chung thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Ở một số quốc gia trên thế giới, công chức được hiểu là: Công chức là những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy hành chính của các bộ thuộc Chính phủ (Anh, Thái Lan, Xin-ga- po…) Công chức không chỉ là những người thực hiện các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính của các bộ (trung ương) mà còn bao gồm cả những người làm công tác chuyên môn nghiệp vụ quản lý trong bộ máy hành chính thuộc chính quyền của các địa phương (Nga, Trung Quốc, Ba Lan, Hung-ga-ri…) Khác với các quan niệm đã nêu trên, một số nước xác định phạm vi công chức bao gồm cả những người thực thi công vụ tại các tổ chức cung ứng dịch vụ công hoặc cả ngành lập pháp, tư pháp (Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha…). Như vậy, tùy theo cách thức tiếp cận về công chức, phạm vi công chức có thể rộng hẹp khác nhau.
Tuy khái niệm công chức được hiểu khác nhau ở từng quốc gia, nhưng việc xác định ai là công chức thường do các yếu tố quyết định như: hệ thống thể chế chính trị, thể chế hành chính, tính truyền thống, sự phát triển kinh tế, xã hội, các yếu tố văn hóa. Các dấu hiệu chung của công chức ở các quốc gia gồm: là công dân của nước đó; được tuyển dụng qua thi tuyển; được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 8 Ở Việt Nam, Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 quy định tại Điều 4 của Luật cán bộ công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [21, Khoản 2 Điều 4]. Ngày 25/11/2019 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức (Luật số 52/2019/QH14, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2020); ngày 16/12/2019, Văn phòng Quốc hội cũng đã ban hành Văn bản hợp nhất Luật Cán bộ, công chức (Số 25/VBHN- VPQH), trong đó định nghĩa công chức như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, 9 công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [22, Khoản 2 Điều 1].
Trong phạm vi luận văn này, công chức được hiểu là người làm việc trong các cơ quan nhà nước (chủ yếu là cơ quan hành chính nhà nước), được tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển (nếu đáp ứng được điều kiện theo quy định), được bổ nhiệm vào ngạch hoặc vị trí công việc trong cơ quan nhà nước để thực hiện hoạt động công vụ và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức ngành thuế Trên cơ sở quan niệm chung về công chức, trong phạm vi luận văn này, công chức ngành thuế được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan thuế nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức ngành thuế là một loại công chức hành chính nhà nước trong bộ máy hành chính nhà nước. Công chức ngành thuế là một bộ phận của công chức hành chính nhà nước trong bộ máy của Bộ Tài chính, được phân loại theo vị trí công tác bao gồm: công chức giữ các chức danh lãnh đạo và công chức không giữ các chức danh quản lý, lãnh đạo.
Theo Quyết định số 78/2004/QĐ-BNV ngày 03 tháng 11 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Thông tư số 09/2010/TT-BNV ngày 11/9/2010 của Bộ Nội vụ về ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức chuyên ngành kế toán, Thuế, Hải Quan, Dự trữ. Công chức chuyên ngành thuế được phân thành 4 loại như sau: - Công chức loại A: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên chính cao cấp và Kiểm soát viên cao cấp thuế; 10 - Công chức loại B: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên chính và Kiểm soát viên chính thuế; - Công chức loại C: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Chuyên viên và Kiểm soát viên thuế; - Công chức loại D: gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch Cán sự và Trung cấp viên thuế. Đặc điểm của công chức ngành thuế Do công chức ngành thuế thuộc hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước, công chức ngành thuế mang đầy đủ đặc điểm chung của công chức, gồm: Thứ nhất, công chức là người làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhất định và có tính chuyên môn nghiệp vụ rõ rệt. Tính thường xuyên thể hiện ở việc tuyển dụng là không giới hạn về thời gian.
Khi đã được tuyển dụng vào một ngạch, chức danh, chức vụ thì một người là công chức sẽ làm việc thường xuyên, liên tục, không gián đoạn về mặt thời gian. Tính chuyên môn nghiệp vụ được thể hiện là công chức được xếp vào một ngạch. Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Ngạch công chức bao gồm: chuyên viên cao cấp và tương đương; chuyên viên chính và tương đương; chuyên viên và tương đương; cán sự và tương đương; nhân viên.
Như vậy, công chức là chuyên viên cao cấp tương đương có thứ bậc về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là cao nhất, thứ bậc đó giảm dần cho đến nhân viên. Thứ hai, công chức được xác lập chỉ với hai hình thức là tuyển dụng và bổ nhiệm. Việc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm công chức do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao. Cơ quan thực hiện việc tuyển dụng hoặc bổ nhiệm công chức bao gồm những cơ quan được quy định trong Luật cán bộ, công chức [21].
11 Thứ ba, nơi làm việc của công chức rất đa dạng. Công chức có thể làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc Tỉnh, Huyện, Quận, Thị xã; Cơ quan, Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập. Thứ tư, về chế độ lao động, công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập, lương của công chức được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, công chức ngành thuế có những đặc điểm riêng liên quan đến vị trí việc làm của ngành thuế gồm: Thứ nhất, công chức ngành thuế là người đem chính sách, pháp luật thuế của Nhà nước tuyên truyền giải thích cho nhân dân (người nộp thuế) hiểu và thi hành để nhằm thu đủ, thu đúng, thu kịp thời tiền thuế của người nộp thuế vào ngân sách nhà nước đồng thời biết lắng nghe ý kiến phản ánh của nhân dân về chính sách thuế để góp ý với Đảng, Nhà nước đặt chính sách, pháp luật thuế cho đúng, phù hợp với thực tiễn [18]. Thứ hai, công chức ngành thuế luôn có sự phối hợp chặt chẽ với công chức các sở, ban, ngành khác để triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân, gắn bó với nhân dân (người nộp thuế). Thứ ba, công chức ngành thuế là người trực tiếp giải quyết tất cả các yêu cầu, quyền lợi chính đáng của người nộp thuế về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thuế. Đây là những vấn đề liên quan, gắn liền với đời sống của người nộp thuế nên về cơ bản công chức ngành thuế phải luôn bám sát, gần gũi và lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của người nộp thuế để từ đó có những cách thức tiến hành công việc sao cho phù hợp để đảm bảo lợi ích chính đáng của nhân dân.
12 Thứ tư, công chức ngành thuế trực tiếp hay phục vụ cho việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nội địa của các thành phần kinh tế.