Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính 1. Khái niệm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính Quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế và các quốc gia coi trọng và xem đó như là một thành tựu của nền văn minh trong thời đại ngày nay; là thước đo của sự tiến bộ xã hội, không phân biệt hệ tư tưởng, chế độ chính trị, bản sắc văn hóa, trình độ phát triển. Các quyền của con người là những giá trị tự nhiên được con người nhận thức, thừa nhận và dần thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện.
Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, tạo ra các tiền đề, điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý để các cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, lợi ích chính đáng của họ. Nói cách khác, bảo đảm quyền con người là quá trình tạo lập các cơ chế và triển khai các hoạt động thực tiễn để hiện thực hóa quyền pháp định. Thuật ngữ “bảo đảm” trong tiếng Việt được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết; bảo đảm là cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó” [64, tr.79], hay “Bảo đảm nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó có thể thực thi trên thực tế” [12, tr. Từ đó có thể hiểu khái niệm bảo đảm quyền của đương sự là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và các điều kiện bảo đảm từ phía Nhà nước nhằm hiện thực các quyền của đương sự trên thực tế.
Trong vụ án hành chính, đương sự là những người tham gia tố tụng với tư cách là người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Họ là những cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng với mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tương tự như các quyền về dân sự, quyền được bảo vệ 9 trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của quốc gia và bảo hộ chặt chẽ. Khi các quyền này bị xâm phạm thì pháp luật trao cho chủ thể các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bao gồm quyền quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án; được chứng minh, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án; được tiếp cận chứng cứ, tài liệu; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được đối thoại với nhau về quyền, lợi ích tranh chấp; kháng cáo, khiếu nại… Từ các quyền cơ bản này, nhà lập pháp sẽ cụ thể hóa thành các quyền cụ thể như quyền khởi kiện, giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia đối thoại, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ từ Tòa án.
Các quyền này của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cũng như nhiệm vụ của Tòa án, Viện kiểm sát. Thông qua việc ghi nhận quyền của đương sự trong giải quyết VAHC, Nhà nước tạo cơ sở pháp lý cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều này sẽ đặt ra trách nhiệm cho cơ quan có thẩm quyền trong việc thụ lý, giải quyết tranh chấp khi các chủ thể muốn khôi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm. Với việc sử dụng các quyền tố tụng được pháp luật quy định, đương sự có thể chủ động trong việc yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ các quyền của mình.
Trong giải quyết vụ án hành chính, bảo đảm quyền của đương sự tập trung chủ yếu vào các nội dung sau đây: 10 Một là, phải ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của đương sự đồng thời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác. Hai là, bảo đảm quyền của các đương sự thông qua các chủ thể người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự; thông qua việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự; thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng mà chủ yếu là Thẩm phán, HTND và Thư ký Tòa án. Ba là, thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự. Bốn là, có các chế tài cần thiết xử lý hành vi vi phạm quyền của đương sự.
Bên cạnh việc ghi nhận, ban hành đầy đủ, minh bạch các biện pháp bảo đảm nói trên thì việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó trên thực tế cũng là yếu tố quan trọng, mang tính quyết định. Các biện pháp bảo đảm trên phải được thực hiện đồng thời thì việc bảo đảm quyền của đương sự mới đạt hiệu quả cao. Với những phân tích trên, bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC dưới góc độ pháp lý được hiểu là việc Nhà nước thiết lập các biện pháp, cơ chế hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng và thực hiện các quyền của đương sự trong quá trình giải quyết các khiếu kiện hành chính bằng con đường tố tụng, thông qua hoạt động xét xử của TAND được điều chỉnh bởi luật TTHC. Bảo đảm quyền của đương sự là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước, cũng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTHC thể hiện ở việc ghi nhận đầy đủ các quyền tố tụng cơ bản của đương sự trong Hiến pháp, Luật TTHC.
Qua đó khôi phục lại những giá trị vật chất, giá trị tinh thần đã bị các chủ thể quản lý nhà nước xâm phạm, tạo sự bình đẳng và công bằng giữa công dân và cơ quan công quyền trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, là cơ sở cho việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan. Các biện pháp nhằm bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền của đương sự trên thực tế bao gồm: ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của đương sự đồng thời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác; thiết lập cơ chế đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự; quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, 11 Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng; thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự cũng như chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự. Đặc điểm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính 1. Tòa án là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền của đương sự Trong quá trình giải quyết VAHC, hầu hết các hoạt động tố tụng mang tính quyền lực nhà nước đều được thực hiện bởi Tòa án.
Tòa án là chủ thể được nhà nước trao quyền giải quyết các tranh chấp, xung đột về lợi ích giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, đặc biệt khi phát sinh tranh chấp hành chính giữa công dân với các cơ quan nhà nước hoặc với người có thẩm quyền, từ đó khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm. Các quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể tham gia tố tụng. Mô hình tố tụng hành chính Việt Nam cơ bản áp dụng theo mô hình thẩm xét, trong đó Tòa án là trung tâm của quá trình tố tụng nhưng có kết hợp với nguyên tắc tranh tụng trong xét xử nhằm nâng cao vai trò và quyền tự quyết của đương sự. Như vậy Tòa án vẫn đóng vai trò chủ yếu trong mọi hoạt động TTHC, là cơ quan đại diện cho công quyền, điều khiển sự vận hành bảo đảm thực hiện quyền của đương sự khi họ tham gia tố tụng tại Tòa án.
Do đó, quyền của đương sự được bảo đảm thực hiện hay không phụ thuộc rất nhiều vào hành vi tố tụng của Tòa án. Chẳng hạn như việc cung cấp tài liệu, chứng cứ trong VAHC, Tòa án là chủ thể quyết định về thủ tục, giá trị cũng như mức độ đầy đủ của chứng cứ “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật này để giải quyết vụ án” [31, khoản 1 Điều 83]. 12 Theo quy định của Luật TTHC năm 2015 thì phần lớn các quyền của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua việc thực hiện các trách nhiệm tương ứng của Tòa án.