Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan phân bố khí thiên nhiên tại Việt Nam Việt Nam có nguồn tài nguyên dầu khí vào loại trung bình và đứng hàng thứ 3 trong khu vực (sau Indonesia và Malaysia). Trữ lượng và tiềm năng khí của Việt Nam tập trung chủ yếu tại 4 bể trầm tích: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay – Thổ Chu. Tổng trữ lượng có thể thu hồi của 4 bể chưa tính đến cấu tạo tiềm năng POS tính đến thời điểm 30/06/2014 khoảng 1116 tỷ m3 [1].
Hình 1- 1: Phân bố các bể dầu khí chính ở Việt Nam [1] Trang 1 Luận văn thạc sĩ HVCH: Phan Tấn Thành Về phân bố theo khu vực: - Trữ lượng thu hồi cấp 2P (P1+P2) đối với các mỏ đang khai thác (còn lại) đều tập trung ở các bể thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam, trong đó bể Nam Côn Sơn chiếm 52%, bể Cửu Long 38%, bể Malay – Thổ Chu 10%. Trữ lượng cấp 2P (P1+P2) đối với các mỏ chuẩn bị khai thác tập trung chủ yếu ở các bể Sông Hồng, bể Malay – Thổ Chu. Trong đó, bể Sông Hồng chiếm 57%, bể Malay – Thổ Chu chiếm 36%, bể Nam Côn Sơn chiếm 6%, bể Cửu Long chiếm 1%. Như vậy, dự báo trong vòng 5 tới, khu vực phát triển sối động vẫn chủ yếu tập trung ở miền Nam và miền Trung để tận dụng nguồn khí bể Nam Côn Sơn, bể Malay – Thổ Chu, bể Sông Hồng [1].
- Trữ lượng thu hồi khí cấp P3 các mỏ đang khai thác và chuẩn bị khai thác chủ yếu tập trung ở bể Malay – Thổ Chu chiếm 58%, bể Nam Côn Sơn chiếm 18%, bể Cửu Long chiếm 23%, bể Sông Hồng chiếm 1% [1]. - Trữ lượng khí thu hồi tiềm năng (cấp P4+P5) với các phát hiện (có thể phát triển và chưa thể phát triển) hiện chủ yếu tập trung ở bể Sông Hồng (chiếm 57%) và khoảng 34% bể Nam Côn Sơn, các bể còn lại chiếm khoảng 9% [1]. - Trữ lượng tiềm năng chưa phát hiện đã tính POS chủ yếu tập trung ở bể Nam Côn Sơn chiếm 60%, bể Sông Hồng chiếm khoảng 18%, bể Malay – Thổ Chu chiếm khoảng 13%, bể Cửu Long chiếm 6%, bể trầm tích khác khoảng 3% [1]. Trang 2 Luận văn thạc sĩ HVCH: Phan Tấn Thành 450 400 350 300 250 200 150 100 50 0 Sông Hồng Cửu Long Nam Côn Mã Lai - Thổ Phú Khánh Tư Chính- Phú Quốc Miền Vòng Sơn Chu Vũng Mây Hà Nội P1+P2 P3 P4+P5 Tiềm năng chưa phát hiện ( Có tính POS) Hình 1- 2: Tài nguyên khí có khả năng thu hồi theo bể trầm tích (tính đến tháng 12/2014) [1] 1.
Nguồn khí bể Sông Hồng Bể Sông Hồng với diện tích khoảng 153.000 km2 trải rộng từ đồng bằng hạ lưu Sông Hồng vịnh Bắc bộ tới hết thềm lục địa miền Trung bao gồm khu vực các Lô từ 100 đến 121. Bể Sông Hồng bao gồm các mỏ như Bạch Long, Thái Bình, Báo Vàng, Báo Đen, Hàm Rồng, Hắc Long, Địa Long, Cá Voi Xanh, Báo Vàng, Sư Tử Biển, Cá Heo.Trong đó mỏ khí Cá Voi Xanh là mỏ khí có trữ lượng lớn nhất của Việt Nam được phát hiện cho đến nay. Hiện tại, PVN và ExxonMobil đang xem xét, nghiên cứu phát triển mỏ Cá Voi Xanh để cung cấp khí cho các hộ tiêu thụ khu vực miền Trung, dự kiến sản lượng khai thác mỏ khí Cá Voi Xanh đạt 8,68 tỷ m3/năm (40% khí trơ và CO2). Tính đến tháng 6/2014, tổng lượng khí đã phát hiện của Bể Sông Hồng ước tính khoảng 264 tỷ m3, trong đó tổng lượng khí có thể đưa vào phát triển khai thác tính đến đến năm 2035 khoảng 157,26 tỷ m3, sản lượng khí đã khai thác là 0,66 tỷ m3, khả năng khai thác giai đoạn 2016-2035 khoảng 84,75 tỷ m3 [1].
Trang 3 Luận văn thạc sĩ HVCH: Phan Tấn Thành 1. Nguồn khí bể Cửu Long Bể Cửu Long bao gồm trũng Cửu Long (phần đất liền) và phần thềm lục địa Đông – Nam Việt Nam. Các hoạt động thăm dò – khai thác ở đây cho đến nay đã khẳng định tiềm năng chủ yếu của bể Cửu Long là dầu và khí đồng hành. Bể Cửu Long gồm các mỏ như Bạch Hổ, Rồng, Nam Rồng – Đồi Mồi, Thỏ Trắng, Gấu Trắng, Rạng Đông, Phương Đông, Ruby, Pearl, Topaz, Diamond, Emerald, Jade, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Sư Tử Nâu, Sư Tử Trắng, Hải Sư Đen, Hải Sư Trắng, …Tổng lượng khí đã phát hiện có thể thu hồi tính đến cuối tháng 12/2013 vào khoảng 157,45 tỷ m3 trong đó sản lượng khí đã khai thác là 54,23 tỷ m3, trữ lượng khí thu hồi còn lại khoảng 103 tỷ m3.
Xét về tỷ lệ, trữ lượng khí đã phát hiện thu hồi còn lại chiếm khoảng 66% trong tổng lượng khí đã phát hiện ở Bể Cửu Long. Trong giai đoạn tới, hầu hết các Nhà thầu đều đã có kế hoạch để đưa các mỏ đang phát triển vào khai thác, chắc chắn sẽ bổ sung bù đắp được lượng khí đang suy giảm từ các mỏ đang khai thác hiện tại và gia tăng nguồn cấp khí từ Bể Cửu Long cho thị trường khu vực Đông Nam Bộ [1]. Bể Nam Côn Sơn Bể Nam Côn Sơn nằm phía Đông - Đông Nam Bể Cửu Long với diện tích khoảng 60.000 km2 bao phủ bởi 21 Lô và là vùng có nhiều giếng khoan thăm dò nhất (trên 60 giếng). Nguồn khí thuộc Bể Nam Côn Sơn chủ yếu là khí tự nhiên.
Công tác tìm kiếm thăm dò ở Bể này đã phát hiện được nhiều mỏ khí tự nhiên khá lớn như Lan Tây, Lan Đỏ, Hải Thạch, Rồng Đôi, Rồng Đôi Tây, Mộc Tinh và các mỏ dầu như Đại Hùng, Chim Sáo, Dừa, mỏ dầu và khí Cá Rồng Đỏ, Sao Vàng – Đại nguyệt…[1] Tổng lượng khí đã phát hiện có thể thu hồi tính đến cuối tháng 12/2013 là 237,82 tỷ m3; trong đó sản lượng khí đã khai thác là 54,7 tỷ m3, khả năng khai thác từ 2014-2035 khoảng 73,1 tỷ m3 [1]. Trang 4 Luận văn thạc sĩ HVCH: Phan Tấn Thành 1. Bể Malay – Thổ Chu Bể trầm tích Mã Lai – Thổ Chu nằm ở phía Tây Nam thềm lục địa Việt Nam trong vịnh Thái Lan với diện tích khoảng 400. Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí được bắt đầu từ những năm đầu của thập kỷ 90 và cũng đạt được nhiều kết quả rất đáng kể, hơn 63% các giếng khoan thăm dò đã phát hiện thấy dầu, khí và đến nay đã ký hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC) ở các Lô như PM3-CAA; Lô B, 48/95, 52/97, 46–Cái Nước, 46/2, 50, 51.
Tính đến tháng 6/2014, tổng lượng khí đã phát hiện của Bể Mã Lai – Thổ Chu khoảng 215,89 tỷ m3, trong đó tổng lượng khí có thể đưa vào phát triển khai thác từ 2016-2035 ước tính khoảng 170 tỷ m3, sản lượng khí đã khai thác khoảng 8,21 tỷ m3, khả năng khai thác từ năm 2016-2035 khoảng 89,08 tỷ m3 [1]. Tài nguyên khí chưa phát hiện Các Bể trầm tích Phú Khánh, Hoàng Sa, Trường Sa, Tư Chính – Vũng Mây, Phú Quốc, Miền Võng Hà Nội, Đồng Bằng Sông Cửu Long cho đến nay vẫn còn ít được nghiên cứu. Công tác tìm kiếm thăm dò ở các Bể đang được đánh giá phát triển trong đó khu vực bể Tư Chính-Vũng Mây là khu vực triển vọng, cần tiếp tục tăng cường công tác thăm dò/thẩm lượng nhằm đánh giá tiềm năng, trữ lượng dầu khí. Hy vọng với những kết quả cập nhật trong quá trình tìm kiếm thăm dò, đây sẽ là các bể giàu tiềm năng dầu khí của Việt Nam trong thời gian tới [1].
Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò năm 2014 của Bể Tư Chính-Vũng Mây có một phát hiện khí Condensate là Cá Kiếm Đen thuộc lô 136/03, đây là một phát hiện dầu khí quan trọng và đầu tiên ở khu vực nước sâu, xa bờ. Các cấu tạo đồng dạng khác trong diện tích lô có khả năng chứa dầu khí cao. Đây là tiền đề quan trọng để đẩy mạnh công tác thăm dò thẩm lượng trong lô, cũng như tăng cơ hội phát triển khai thác dầu khí từ lô hợp đồng và các lô lân cận. Chương trình thăm dò, thẩm lượng tiếp theo cần được xây dựng một cách tối ưu trên cơ sở kết hợp các yếu tố như yêu cầu thu thập đủ thông Trang 5 Luận văn thạc sĩ HVCH: Phan Tấn Thành tin dữ liệu và chi phí hiệu quả (ví dụ kết hợp Mini DST/DST, giếng khoan nhiều mục đích.
Nguồn khí của bể Phú Khánh, mức độ thăm dò thẩm lượng còn ít, chưa có giếng khoan, cần đẩy nhanh việc minh giải 5.000 km 2D khu vực lô 144-145; xử lý minh giải địa chấn 3D lô 148-149 xác định vị trí để có thể khoan trong năm 2016-2017. Đây là vùng nhạy cảm, cần các hoạt động thăm dò linh hoạt nhằm khẳng định tiềm năng dầu khí và khẳng định chủ quyển biển đảo [1]. Đặc điểm thành phần khí tại các Bể trầm tích của Việt Nam 1. Bể Cửu Long Thành phần khí các mỏ thuộc Bể Cửu Long được trình bày ở bảng sau: Bảng 1- 1: Thành phần khí các mỏ thuộc Bể Cửu Long (% Mol) [1] Rạng Sư Tử Sư Tử Khí Cửu Thành phần cấu tử Bạch Hổ Đông Đen/Vàng Trắng Long Methane, C1 83,75 79,2 80,77 77,5 73,33 Ethane, C2 12,55 10,87 9,60 9,90 12,7 Propane, C3 2,59 6,14 4,38 5,70 8,19 Iso-Butane, i-C4 0,26 1,04 1,21 1,30 1,54 Normal-Butane, n-C4 0,31 1,46 1,12 2,10 2,29 Neo-Pentane, i-C5 N/A N/A N/A N/A N/A Iso-Pentane, i-C5 0,05 0,35 0,28 0,7 0,50 Normal-Pentane, n-C5 0,04 0,35 0,27 1,3 0,49 Heavies, C6+ 0,02 0,29 0,36 0,59 0,57 Nitrogen, N2 0,35 0,26 1,96 0,10 0,39 Carbon Dioxide, CO2 0,1 0,04 0,05 0,066 0,09 Trang 6 Luận văn thạc sĩ HVCH: Phan Tấn Thành Từ bảng trên cho thấy, khí từ các mỏ của bể Cửu Long có hàm lượng Methane khoảng 80%, trong khi đó hàm lượng Ethane trong khí khá cao (trên 10%) do hầu hết các mỏ khí của bể này đều là khí đồng hành.
Bể Nam Côn Sơn Thành phần khí của Bể Nam Côn Sơn được trình bày trong bảng sau: Bảng 1- 2: Thành phần khí Bể Nam Côn Sơn (% Mole) [1] Thành phần cấu tử Lan Tây Hải Thạch Đại Hùng Thiên Ưng Methane, C1 88,62 84,13 76,88 72,84 Ethane, C2 4,22 5,8 8,38 7,69 Propane, C3 2,36 3,36 5,37 4,68 Iso-Butane, i-C4 0,59 0,68 1,25 1,21 Normal-Butane, n-C4 0,57 0,83 1,40 1,45 Iso-Pentane, i-C5 0,24 0,24 0,506 0,59 Normal-Pentane, n-C5 0,16 0,17 0,324 0,43 Heavies, C6+ 1,03 0,17 1,94 0,97 Nitrogen, N2 0,34 0,12 0,407 0,37 Carbon Dioxide, CO2 1,87 4,5 3,53 5,60 Thành phần khí của Bể Nam Côn Sơn với các mỏ đang khai thác chủ yếu thành phần là các Hydorocacbon nhẹ (chiếm trên 90%) thể tích khí, thích hợp trong sản xuất điện, công nghiệp hóa chất, dân dụng, thương mại.