CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN TÓNG QUAN VỀ DỊCH VỤ BAO THANH TOÁN CỦA NGÂN HÀNG 1.1 CÁC DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1.L1 Khái niệm dịch vụ Ngân hàng Cho đến nay, khái niệm dịch vụ NH chưa được định nghĩa một cách cụ thể trong bắt kỳ từ điển nào. Mỗi quốc gia đều có những cách hiểu khác nhau về dịch vụ ngân hàng Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). dịch vụ tài chính là bắt kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính được cung cấp bởi nhà cung cắp dịch vụ tài chính. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ NH và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm).
Như vậy, dịch vụ NH được đặt trong nội hàm của dịch vụ tài chính. Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) của WTO cũng không nêu khái niệm dịch vụ mả thay vào đó là liệt kê dịch vụ thành 12 ngành lớn. Mỗi ngành lớn lại được chia ra các phân ngành nhỏ (55 phân ngành) và mỗi phân ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể chỉ tiết (155 phân ngành). Các dịch vụ NH, theo GATS, là: nhận tiền gửi, cho vay, cho thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán thé, séc,., bảo lãnh và cam kết, mua bán các công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cắp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn, trung gian và hỗ trợ về tài chính.
Đây là những cơ sở thích hợp cho việc xúc tiến đàm phán về mở cửa thị trường dịch vụ quốc tế. Ở nước ta, đến nay vẫn chưa có sự minh định rõ ràng về dịch vụ NH. Có không ít quan điểm cho rằng: dịch vụ NH không thuộc phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động nghiệp vụ NH theo chức năng của một trung gian tài chính (như cho vay, huy động tiền gửi.) mà chỉ những hoạt động không thuộc nội dung nói trên mới gọi là dịch vụ NH. Một khác lại cho rằng tất cả hoạt động NH phục vụ cho DN và công chúng đều là dịch vụ NH.
Tóm lại, hiện nay ở VN vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm cũng như danh mục các chỉ tiêu về dịch vụ NH trong các văn bản luật. Tuy nhiên Hiệp định thương mại Việt Nam ~ Hoa Kỳ và Hiệp định khung ASEAN vé dich vu (AFAS) đã được xây dựng trên các nguyên tắc chuẩn mực của WTO nên hầu như các nội dung và phương pháp phân loại dịch vụ tài chính (trong đó có dịch vụ NH) tương tự như WTO. Kết hợp với thực tế cung cấp các dịch vụ NH tai các NHTM Việt Nam, tác giả đưa ra cách hiều về dịch vụ NH như sau: Dịch vụ NH là toàn bộ hoạt động tié tin dụng, thanh toán, ngoại hồi. của hệ thống NH cung ứng cho nền kinh 1.2 Các dịch vụ ngân hàng Có thể phân dịch vụ NH thành 02 loại, đó là các dịch vụ truyền thống của NH và các dịch vụ NH mới phát triển gần đây.
Cụ thể như sau: — Dịch vụ truyền thống của ngân hàng: Thực hiện trao đổi ngoại tệ, chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giá trị, tài trợ các hoạt động của Chính phủ, cung cấp các tài khoản giao dịch, cung cấp địch vụ uỷ thác [7] — Những dịch vụ ngân hàng mới phát triển gần đây: Cho vay tiêu dùng, cho vay tài trợ dự án, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán, tư vấn tài chính, dịch vụ thẻ, quản lý tiền mặt, bán dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng điện tử, cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, các dịch vụ khác. TONG QUAN VE DICH VU BAO THANH TOÁN 1.1 Khái niệm, chức năng và các hình thức bao thanh toán chủ yếu 1.1 Các khái niệm về bao thanh toán Mặc dù BTT đã trở thành dịch vụ rất phổ biến trên thế giới song vẫn có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ này: Theo Công ước về BTT quốc tế của UNIDROIT 1988: BTT là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương. mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng. Theo đó, tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý số sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo hiểm rủi ro không thanh toán của bên mua hảng.18] Theo Qui tắc chung về BTT quốc tế của Hiệp hội BTT quéc té (FCI - Factors Chain International): BTT là một dich vu tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ.
Đó là sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ BTT (đơn vị BTT) với người cung ứng hàng hóa dịch vụ (người bán), trong đó đơn vị BTT sẽ mua lại khoản phải thu của người bán, dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa dịch vụ. Nếu người mua phá sản hay mất khả năng chỉ trả thì đơn vị BTT sẽ thay người mua trả tiền cho người bán. Khi người mua và người bán ở hai nước khác nhau thì dịch vụ này được gọi là BTT quốc tế.18] Theo điều 04 Luật các TCTD Việt Nam (Luật số: 47/2010/ QH12): BTT là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.12] Thực chất, tất cả các quan điểm nêu trên chỉ là những cách mô tả dịch vụ BTT dưới nhiều khía cạnh và góc nhìn khác nhau, nhưng bản chất của dịch vụ BTT vẫn chỉ là: “sự chuyển nhượng tất cả các quyên và lợi ích liên quan tới khoản phải thu ngắn hạn của người bán hàng cho một đơn vị BT”. Tóm lại, ta có thể đưa ra khái niệm BTT như sau: BTT là việc người bán hàng chuyển nhượng cho don vi BTT tat ca các quyền và lợi ích liên quan tới những khoản thu ngắn hạn của người bán hàng.
phát sinh từ việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người bán và người mua để người bán được đơn vị BTT cung cấp ít nhất một trong bốn chức năng chủ yếu của BTT như sau: ®_ Theo dõi số sách bán hàng của người bán * Tải trợ dưới dạng tạm ứng cho người bán hàng dựa trên giá trị các KPT = Thung ho = Bao hiém rii ro tin dung cdc KPT.2 Chức năng của bao thanh toán Bao thanh toán có 04 chức năng cơ bản sau: > Chie nding quản lý số sách liên quan đến các khoản phải thu Đơn vị BTT giữ trọn bộ số sách bán hàng của người bán, phụ trách toàn bộ. việc quản lí và theo dõi tiến độ thu nợ tiền bán hàng thay người bán dựa trên bản sao tất cả các hoá đơn gửi người mua, theo dõi việc thanh toán tiền hàng khi đến hạn. * Chức năng tài trợ thuần tuý Mỗi khi nhận được hoá đơn của người bán, đơn vị BTT sẽ ứng trước cho người bán một só tiền bằng mức tỷ lệ phần trăm xác định của giá trị hoá đơn ấy, thường là 75% - 85%. Phần còn lại của giá trị hoá đơn sẽ được đơn vị BTT cam kết thanh toán cho người bán sau một thời hạn thoả thuận, sau khi trừ đi các khoản phí dịch vụ tài chính và lãi tính trên số +* Chức năng thu hộ nợ Với phương thức thanh toán trả chậm, người bán cho phép người mua chậm thanh toán, sau khi họ đã nhận được hàng hoá.
Điều này làm cho bên bán gặp những khó khăn như: vừa phải theo dõi quá trình sản xuất kinh doanh vừa phải tổ chức hệ thống theo dõi thu nợ. Đơn vị BTT với chức năng thu hộ sẽ thay người bán đi đỏi nợ người mua. Nhờ đó, người bán có nhiều thời gian tập trung vào sản xuất, kinh doanh. +* Chức năng bảo hiểm rủi ro trong thanh toán Trong hoạt động thương mại, người bán thường gặp nhiều khó khăn trong việc liên lạc với người mua vì khoảng cách địa lý, ngôn ngữ, hệ thống pháp luật.
Từ đó khả năng rủi ro thanh toán ngày càng cao. Để hạn chế được rủi ro này, người bán có thể bán các khoản phải thu của mình cho đơn vị BTT. Khi ban các khoản phải thu cho đơn vị BTT, người bán có thể chuyển giao các rủi ro thương mại của bên mua cho đơn vị BTT dựa theo thoả thuận trong hợp đồng. Trường hợp BTT miễn truy đòi, đơn vị BTT sẽ gánh chịu mọi rủi ro, trong khi đó người bán không còn trách nhiệm gì nữa.3 Các hình thức bao thanh toán chủ yếu % Căn cứ vào chức năng của bao thanh toán ~—_ BTT đầy đủ các chức năng: là dịch vụ trong đó đơn vị BTT cung cấp đầy đủ bốn chức năng chủ yếu của BTT đến khách hang ~_ BTT thực hiện một số chức năng: là dịch vụ trong đó đơn vị BTT cung cấp hai hoặc ba chức năng của BTT.
* Căn cứ vào tính chất truy đòi —_ BTT có quyền truy đòi: là dịch vụ BTT cung cấp tất cả các chức năng BTT trừ chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng. Nếu các khoản phải thu (đã được chuyển nhượng) đến hạn mà đơn vị BTT không đòi được thanh toán từ người mua hàng, đơn vị BTT có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước/thanh toán cho người bán hàng. —_ BTT miễn truy đòi: là dịch vụ BTT cung cấp chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng. Đơn vị BTT phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với rủi ro không thu được tiền thanh toán, với điều kiện không có tranh chấp giữa người bán và người mua.
Đơn vị BTT không có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước/thanh toán cho người bán hàng và phải thanh toán đầy đủ 100% giá trị hoá đơn. s* Căn cứ theo phạm vĩ hoạt động địa lý ~_ BTT trong nước: là dịch vụ BTT được cung cấp cho người bán và người mua ở trong cùng một quốc gia, có hoạt động mua bán hàng hoá/dịch vụ diễn ra trong phạm vi biên giới một quốc gia. —_ BTT quốc tế: là dịch vụ BTT được cung cấp cho nhà xuất khâu và nhà nhập khâu ở hai quốc gia khác nhau, có hoạt động mua bán vượt qua biên giới của một quốc gia.