Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hiệu quả tài chính của Công ty Công nghệ Viễn Thông Sài Gòn -Saigontel Chương 4 : Một số giải pháp và khuyến nghị nâng cao hiệu quả tài chính của Công ty Công nghệ Viễn Thông Sài Gòn -Saigontel CHUONG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA TÀI CHÍNH CUA DOANH NGHIỆP 1. Tống quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có những nghiên cứu đi sâu vào đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh, khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Thomas (2004), The Reinsurance Business of the Future: Improving Capital Efficiency, published in 2004 by the Insurance Information Institute in Reinsurance: Fundamentals and New Challenges, U.
Công trình nay nghiên cứu về hiệu qua sử dụng vốn kinh doanh ở các doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động tái bảo hiểm. Bằng cách sử dụng bảng so sánh tỷ suất lợi nhuận giữa một số ngành khác với ngành kinh doanh bảo hiểm, tác giả chỉ ra răng hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp bảo hiểm còn thấp. Từ đó, một số khuyến nghị đã được tác giả đưa ra (Bruce B. Myron Olstein và các cộng sự (2009), Improving Water Utility Capital Efficiency, on The Water Research Foundation Published in the U.A, các tac giả đã tiến hành nghiên cứu trên một nhóm mau các nhà cung cấp dịch vu cấp thoát nước bang một loạt các phương pháp như phỏng van, khảo sát thực tế, kiểm tra thí điểm.
dé thu thập các dữ liệu cần thiết, từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của ngành công nghiệp này và cuối cùng báo cáo đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình (Myron Olstein, 2009). Hiệu quả tài chính của một công ty là hệ thống các chỉ tiêu đóng vai trò quan trọng đối với các bên liên quan như các nhà đầu tư, nhà quản lý, chủ nợ,. trong việc ra các quyết định kinh doanh hoặc đầu tư. Do vậy, hiệu quả tài chính là một chủ đề nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của khá nhiều học giả, đặc biệt được nghiên cứu trong các sự kiện của công ty như các dot phát hành cổ phiếu: Phát hành lần đầu (IPO), hoặc phát hành bổ sung (SEO).
Ritter (1997) đã thực hiện một nghiên cứu đầu tiên và có ảnh hưởng lớn tới các nghiên cứu sau này về hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp sau IPO, nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho thấy các công ty đều có hiệu quả tài chính trong dài hạn kém đi sau sự kiện. Theo sau đó, có khá nhiều các nghiên cứu được thực hiện ở các quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, nhưng kết quả còn nhiều tranh cãi từ việc tìm thấy bằng chứng hiệu quả tài chính giảm cho tới hiệu quả tài chính tăng sau các sự kiện IPO, SEO. Phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung vào các sự kiện IPO và SEO mà tất ít nghiên cứu được thực hiện về hiệu quả tài chính xung quanh sự kiện niêm yết. Trong khi đó, niêm yết là một sự kiện khi một công ty phát hành có chứng khoán được giao dịch trên Sở giao dich chứng khoán, đây là một chia khóa mở ra cơ hội cho doanh nghiệp trong việc tìm kiếm nguồn vốn và nâng cao uy tín.
Tuy nhiên, dé được niêm yết thì các doanh nghiệp cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về vốn, hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính trước niêm yết. Động cơ tương tự như IPO và SEO, các nhà quản lý của công ty dự kiến niêm yết có thé sẽ phù phép dé tăng lợi nhuận bang các phương pháp kế toán trước khi niêm yết dé đáp ứng các yêu cầu niêm yết và đồng thời tao ra sự lạc quan của các nhà đầu tư Charitou & Louca. Sau đó, lợi nhuận được phù phép thực hiện trước đó sẽ bị đảo ngược và dẫn tới một sự suy giảm hiệu quả tài chính (đo lường băng chỉ tiêu lợi nhuận) của các công ty này sau niêm yết. Tại các sự kiện này, hầu hết các công ty sẽ lựa chọn thời điểm niêm yết trùng với thời điểm kết quả hoạt động đạt mức cao nhất, điều này chỉ là tạm thời và không bền vững của Loughran và Ritter.
Do đó, các nhà đầu tư sẽ thất vọng về hiệu quả tài chính giảm đi sau sự kiện, điều này có thé dẫn tới sự giảm giá cô phiếu của công ty trên thị trường và kết qua dẫn tới sự kém hiệu quả tài chính (hiệu suất cổ phiếu) trong dai han Josette Peyrard (2019). Journal of Information Systems (2012), The Financial Performance of Global Information and Communication Technology Companies đã cho răng: Nghiên cứu nay xem xét hoạt động tài chính chéo giữa các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) toàn cầu trong giai đoạn 1998-2007. Sử dụng hồi quy tuyến tính tổng hợp, kết qua cho thấy các công ty ICT có trụ sở tại Hoa Kỳ trung bình hoạt động kém hơn phần còn lại của thế giới sau khi kiểm soát các biến cụ thể của công ty được biết là có ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của công ty. Kết quả cũng cho thấy rằng các đặc điểm của quốc gia sở tại của công ty giải thích một phần có ý nghĩa thống kê của sự thay đổi trong hoạt động của công ty, tăng dần đến các đặc điểm cấp công ty.
Cụ thé hơn, các doanh nghiệp đặt tại các quốc gia có môi trường thuế hấp dẫn và trợ cấp cao của chính phủ hoạt động tốt hơn các đối thủ cạnh tranh của họ ở các quốc gia có môi trường thuế và trợ cấp kém hap dẫn hơn. Các công ty trên thị trường tài chính cung cấp cho các công ty ICT chỉ phí vốn tương đối thuận lợi kém hơn các công ty ở các thị trường có chi phí vốn ít có lợi hơn cho sự phát triển kinh doanh, điều này có thé cho thấy chi phí vốn thu hút sự cạnh tranh thị trường mới làm giảm lợi nhuận tong thé. Các quốc gia có các công ty CNTT-TT hoạt động tốt nhất là những quốc gia có mức độ tập trung vào ngành cao nhất, nơi một số ngành chiếm ưu thế hơn là sự phân bổ đồng đều các công ty trong một loạt các ngành. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh và nhà đầu tư.
Các quốc gia có các công ty CNTT- TT hoạt động tốt nhất là những quốc gia có mức độ tập trung vào ngành cao nhất, nơi một số ngành chiếm ưu thé hơn là sự phân bổ đồng đều các công ty trong một loạt các ngành. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh và nhà đầu tư. Các quốc gia có các công ty CNTT-TT hoạt động tốt nhất là những quốc gia có mức độ tập trung vào ngành cao nhất, nơi một số ngành chiếm ưu thé hơn là sự phân bố đồng đều các công ty trong một loạt các ngành. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách, chiến lược kinh doanh và nhà đầu tư (Journal of Information Systems, 2012).
Theo nghiên cứu của tac giả Josette Peyrard: “Phân tích tài chính doanh nghiệp có thé được định nghĩa như một tổng thé các phương pháp cho phép đánh giá tình hình tài chính quá khứ và hiện tại, giúp cho việc ra quyết định và quản trị DN một cách chính xác” (Josette Peyrard, 2019). Các nghién cứu trong nước Bên cạnh các công trình nghiên cứu lý luận, trong thời gian qua còn có rất nhiều công trình nghiên cứu thực tiễn về phân tích báo cáo tài chính có thể kế đến như sau: Bài viết “Nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả tài chính trong dài hạn của doanh nghiệp sau niêm yết tại Việt Nam” của Duong Thi Chi (2020) đã đưa ra, hiệu quả tài chính được tìm thấy cao nhất tại các năm trước niêm yết và năm sau niêm yết, và sau đó giảm trong các năm tiếp theo, đặc biệt là trong năm thứ hai sau niêm yết sẽ có giá trị thấp nhất. Kết quả nghiên cứu: hiệu quả tài chính — đo lường dựa trên thông tin thị trường. Đề tài “Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Cảng Tân Vũ — Công ty Cé phần Cảng Hải Phòng” của tác giả Tạ Văn Điệt (2020) thực hiện tại Đại học Hàng hải Việt Nam.
Đặng Kiều Anh (2020) với đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả SXKD tai Công ty CP Cảng Dịch vụ Dầu khí Dinh Vũ” được bảo vệ tại Đại học Hàng hải Việt Nam. Các đề tài nghiên cứu liên quan đến nội dung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp kinh doanh cảng biển chủ yếu tập trung vào các cảng biển khu vực phía Bắc. Tuy nhiên, cũng có một số đề tài có đối tượng nghiên cứu là hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cảng biển ở khu vực phía Nam như dé tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh Cảng Bến Nghé” của tác giả Lê Thị Lĩnh (2020). Tuy nhiên, giống như hầu hết các nghiên cứu ở mức độ này thường chỉ tập trung đi sâu vào phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp cụ thể và đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho từng doanh nghiệp đó.
Một số luận án tiến sĩ đã lựa chọn đề tài liên quan đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên cũng có những khác biệt về phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Luận án “Nghiên cứu về hiệu quả sản xuất kinh doanh và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nhà nước xây dựng giao thông” của tác giả Dương Văn Chung (2021). Luận án đã hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước nói chung và doanh nghiệp xây dựng giao thông nói riêng. Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các Tổng công ty Nhà nước xây dựng giao thông thuộc bộ Giao thông vận tải dé từ đó rút ra những hạn chế, yếu kém và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp này.