đặt vấn đề, biết cách phát triển, thể hiện hoàn chỉnh nội dung. - Đối với song thoại: Cần giúp học sinh biết cách duy trì được cuộc giao tiếp theo đúng chủ đề và đề tài đã định. Luyện cho HS biết đối thoại theo chủ đề và khi HS đã nghĩ được một chủ đề thì cần phải tập cho các em biết cách giao tiếp theo đề tài đã chọn đó. Các đơn vị ngôn ngữ trong dạy nghe và nói ở tiểu học a) Về mặt ngữ âm: Trong cấu tạo của âm tiết tiếng Việt, nguyên âm và thanh điệu là những thành phần bắt buộc phải có mặt.
Đó là hai yếu tố cần và đủ để cấu tạo nên một âm tiết đơn giản nhất. Âm tiết tiếng Việt, ở dạng đầy đủ nhất gồm 5 thành phần, đó là: Âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối, thanh điệu. Bên cạnh việc có nhiều nguyên âm, số lượng thanh điệu trong tiếng Việt cũng khá phong phú. Số lượng các thanh điệu đó là: Thanh không (thanh ngang); thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã, thanh nặng.
14 Trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt, trừ phần phụ âm đầu và thanh điệu, phần còn lại của âm tiết được gọi chung là phần vần. Phần vần có một vai trò quan trọng trong cấu trúc âm tiết: âm tiết có thể không có phụ âm đầu nhưng không thể không có vần. Chính vì lẽ đó, vần của tiếng Việt rất phong phú. Người Việt, do đặc điểm của cấu trúc âm tiết, trong cách nói năng thường chuộng vần điệu và rất nhạy cảm với các vần điệu đó.
b) Về mặt từ vựng - ngữ nghĩa: Đặc điểm đơn lập của tiếng Việt về mặt từ vựng - ngữ nghĩa được thể hiện rõ nhất trong cách cấu tạo từ ghép. Đó là những từ do sự kết hợp ngữ nghĩa giữa các yếu tố để tạo nên nghĩa mới. Khi kết hợp, nghĩa riêng của từng yếu tố có sự biến đổi. c) Về mặt ngữ pháp: Trong tiếng Việt, việc dùng trật tự cú pháp và quan hệ từ làm phương tiện ngữ pháp là một đặc điểm nổi bật.
Trật tự sắp xếp các từ trong câu là phương tiện chính để biểu thị mối quan hệ ngữ pháp giữa các từ. Thay đổi trật tự từ trong câu là thay đổi cả mối quan hệ ngữ pháp, thay đổi cả nội dung ngữ nghĩa cần thông báo của câu. Hoạt động sản sinh và lĩnh hội lời nói trong giao tiếp a) Hoạt động sản sinh lời nói Do yêu cầu giao tiếp trong cuộc sống mà ngôn ngữ cần được phát triển, trong đó có một hình thức biểu hiện ngôn ngữ bằng âm thanh hay còn gọi là lời nói. Quá trình tiến hóa của lời nói không rõ và chịu nhiều sự tranh luận của các nhà nghiên cứu, mặc dù động vật khác cũng phát ra âm thanh để giao tiếp nhưng chỉ có con người sử dụng âm thanh có ngữ âm và ngữ pháp, tạo thành lời nói.
Sản sinh lời nói là hành động sử dụng các quy tắc của ngôn ngữ và các yếu tố ngôn ngữ để tạo ra lời nói, phát ngôn với nội dung tương ứng và hình thức nhất định. Vận dụng các yếu tố ngôn ngữ về âm, từ, các quy tắc kết hợp từ “tôi”, “ăn”, “cơm” tạo thành câu “Tôi ăn cơm”. - Tách một vế của câu ghép ra thành câu riêng. 15 Ví dụ: Đất nước đẹp vô cùng nhưng Bác phải ra đi (Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên).
- Dựa trên biện pháp đảo trật tự câu. Ví dụ: Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung (truyện Kiều - Nguyễn Du). b) Lĩnh hội lời nói Trước hết, lĩnh hội lời nói được hiểu là một hoạt động (hành động) đặc biệt của con người. Đó là một quá trình tích cực, do con người (chủ thể) chủ động thực hiện với một mục đích nhất định, bởi một động cơ nào đó, trong những phương thức thực hiện cụ thể, điều kiện xác định.
Điều này có nghĩa là lĩnh hội lời nói không phải là một quá trình thụ động. Nói cách khác, lĩnh hội lời nói có đầy đủ các đặc điểm, tính chất của hoạt động lời nói. Lĩnh hội lời nói bao gồm các loại hình nghe và đọc lời nói, trong đó nghe lời nói diễn ra thường xuyên hơn, nó còn gọi là tri giác lời nói. Tính chất đặc biệt của hoạt động lĩnh hội lời nói là ở chỗ lĩnh hội lời nói không có động cơ riêng mà lĩnh hội lời nói thường được thúc đẩy bởi động cơ của các hoạt động chung khác.
Người ta nghe hay đọc là để hiểu nhiều, biết thêm, để nghiên cứu, để làm và vui chơi, chứ không có ai trong đời sống bình thường lại làm cái việc đọc để mà đọc, nghe để mà nghe. Những điều này chỉ có trong dạy học ngôn ngữ ở nhà trường. Lĩnh hội lời nói là khả năng hiểu và nhận thức sâu sắc về những điều được truyền đạt thông qua lời nói. Lĩnh hội lời nói chỉ khả năng nghe hiểu, tư duy và khái niệm về việc nhận diện thông điệp, ý nghĩa, ý định và tình cảm mà người nói cố gắng truyền đạt.
Lĩnh hội lời nói không chỉ đơn thuần là việc nghe và hiểu những từ và câu được truyền đạt, mà còn liên quan đến việc nhận biết các yếu tố phi ngôn ngữ như giọng điệu, biểu cảm, ngôn ngữ cơ thể và ngữ điệu tổng thể. Khi lĩnh hội lời nói tốt, người nghe có khả năng phân tích, tìm hiểu và đánh giá thông 16 điệp một cách sâu sắc, giúp họ hiểu rõ ý kiến, ý định và tình cảm mà người nói muốn truyền đạt. Lĩnh hội lời nói là một kỹ năng quan trọng trong giao tiếp hiệu quả, đặc biệt là trong việc xây dựng mối quan hệ, trao đổi thông tin và thương lượng. Nó giúp người nghe hiểu rõ và đồng cảm với người nói, đồng thời giảm thiểu sự hiểu lầm và xung đột trong giao tiếp.
Như vậy, bên cạnh quá trình sản sinh lời nói, thì lĩnh hội lời nói cũng là môt mặt quan trọng trong dạy học phát triển lời nói. Sản sinh lời nói và lĩnh hội lời nói có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau trong giao tiếp, chúng vừa là phương thức thực hiện lĩnh hội lời nói, vừa là điều kiện, có thể nói chúng là hai mặt thống nhất tuy nhiên giữa chúng không đồng nhất. Việc nghiên cứu quá trình sản sinh và lĩnh hội lời nói sẽ giúp GV nắm được cơ chế triển khai hoạt động giao tiếp đem lại hiệu quả cho dạy học phát triển kỹ năng nói. Lý thuyết hội thoại và ứng dụng trong dạy học nghe, nói 1.
Khái niệm hội thoại và các kiểu hội thoại a) Khái niệm Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp thường có hai chiều, bên này nói và bên kia nghe rồi phản hồi trở lại, lúc đó vai trò của hai bên có sự thay đổi, bên nói lại trở thành bên nghe và bên nghe lại trở thành bên nói. Đó là hội thoại” [14, tr. Theo tác giả Đỗ Hữu Châu đã đưa ra định nghĩa về hội thoại như sau: “Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến của ngôn ngữ, thường xuyên, đây cũng là hình thức giao tiếp cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác có thể tiến hành” [13, tr. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại đưa ra định nghĩa: “Hội thoại là giao tiếp hai chiều, đó là sự tương tác giữa người nói với người nghe, đồng thời có sự luân phiên lượt lời” [16, tr.
Như vậy, qua phân tích các quan niệm trên có thể nhận thấy mặc dù có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, đưa ra các quan niệm khác nhau về hội 17 thoại, nhưng nhìn chung nội hàm về khái niệm hội thoại vưới những tính chất cơ bản của nó là cơ bản giống nhau, có những mặt tương đồng. Từ những quan niệm trên, tác giả đưa quan niệm “hội thoại” như sau: Hội thoại là hoạt động giao tiếp được thực hiện bằng lời nói miệng giữa hai hoặc nhiều nhân vật tham gia giao tiếp nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm hay những thông tin. theo một mục đích nhất định b) Các kiểu hội thoại - Dựa vào hoàn cảnh giao tiếp hẹp diễn ra hội thoại người ta chia thành hai kiểu: + Hội thoại khó, có tính chất nghi thức chính thức và mang tính quy phạm đòi hỏi người tham gia phải suy nghĩ rất kỹ lưỡng trước khi nói. Khi nói phải sao cho phù hợp với nội dung, hoàn cảnh như chào hỏi người lớn tuổi.
+ Hội thoại không mang tính nghi thức, hội thoại này người nói có thể thoải mái hơn khi bộc lộ những suy nghĩ, tư tưởng của mình như trò chuyện, thảo luận. Trong nội dung luyện nói của SGK Tiếng Việt 2 hiện nay không có nhiều bài tập dạy về nghi thức lời nói, một số bài tập như nói lời cảm ơn, nói lời chào hỏi, nói lời xin lỗi,. Khi dạy những dạng bài này, GV phải sử dụng phương pháp đóng vai để các em lựa chọn cách xưng hô cho phù hợp gắn với cuộc sống gia đình cũng như cách thể hiện thái độ sao cho đúng mực khi nói. - Dựa vào nhân vật giao tiếp người ta chia thành hai kiểu: đa thoại và đơn thoại.
+ Đa thoại được hiểu theo nghĩa thông dụng nhất là kiểu hội thoại giữa hai, ba hay nhiều người cùng tham gia hoạt động giao tiếp nói với nhau với một mục đích nhất định. + Đơn thoại: ngược lại vưới đa thoại, đơn thoại là kiểu hội thoại chỉ có một người chủ động nói (tuy nhiên không phải nói một mình), còn những người khác có tham gia nhưng đóng vai trò là người nghe. Trong đơn thoại còn có trường hợp tự nói cho chính bản thân mình nghe (độc thoại). 18 Trong nội dung rèn KNNN của môn Tiếng Việt lớp 2, GV kết hợp các dạng hội thoại gồm cả đa thoại và đơn thoại.
Đa thoại chủ yếu là kiểu đối thoại, đơn thoại chiếm tỉ lệ nhiều hơn. Trên cơ sở nắm vững khái niệm và đặc điểm của các loại hội thoại này GV khi dạy luyện nói cho HS cần biết luyện cho các em biết dùng lời đối thoại và cả lời độc thoại. Ngoài ra, tùy từng mục đích chúng ta có thể phân chia thành các kiểu hội thoại bắt buộc, đó là những nội dung được định trước; hội thoại tự do, không có nội dung định trước gồm nhiều chủ đề khác nhau. Các quy tắc hội thoại a) Quy tắc thương lượng hội thoại Thương lượng hội thoại là sự thỏa thuận và chỉ khi có được sự thỏa thuận thống nhất giữa những người tham gia thì cuộc giao tiếp mới bắt đầu.