Chương 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng điện tử 1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử “Dịch vụ NHĐT xuất hiện đầu tiên tại Mỹ, sau khi các NH lớn đồng loạt ứng dụng và cung cấp chương trình phần mềm cho KH để xem số dư tài khoản, đồng thời thực hiện một số lệnh thanh toán cho một số dịch vụ công cộng như thanh toán tiền điện, cước thuê bao điện thoại, tiền nước, tiền ga, v. Đến năm 1995 dịch vụ NHĐT chính thức triển khai hệ thống phần mềm Quicken của công ty Intuit Inc, cùng với sự tham gia ủng hộ của 16 ngân hàng lớn nhất ở nước Mỹ.
Như vậy, khách hàng chỉ cần một máy vi tính, một modem kết nối mạng và phần mềm Quicken là có thể sử dụng dịch vụ này.” (Trần Quốc Đạt, 2006) “Dịch vụ ngân hàng điện tử được hiểu là dịch vụ, các sản phẩm và dịch vụ truyền thống được phân phối trước đây trên các kênh mới như Internet, Di động, Gọi. Dịch vụ ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: ngân hàng trực tuyến, Chỉ tồn tại dựa trên môi trường Internet, cung cấp dịch vụ 100% qua môi trường mạng” (Nguyễn Minh Kiều, 2007). “Ngoài ra, sự kết hợp giữa hệ thống NHTM truyền thống và truyền thống và các dịch vụ truyền thống được sử dụng, tức là phân phối các sản phẩm và dịch vụ cũ trên các kênh phân phối mới. Do đó, dịch vụ NHĐT là tên của TMĐT trong lĩnh vực NH.
Như vậy, có thể nói rằng TMĐT là cơ sở quan trọng nhất cho sự hình thành và phát triển dịch vụ NHĐT. TMĐT là một phần không thể thiếu của nền kinh tế kỹ thuật số, hoặc một dạng hoạt động thương mại thông qua các ứng dụng điện tử được vi tính hóa trong trao đổi hàng hóa và dịch vụ hàng ngày. Trong TMĐT, các giao dịch được mã hóa và số hóa thành thông tin thương mại. Thông tin này được trao đổi và xử lý thông qua các phương tiện công nghệ trong tất cả các giai đoạn của quy trình giao dịch: Thư tín điện tử, thanh toán điện tử, trao đổi dữ liệu điện tử, giao hàng kỹ thuật số…dữ liệu, bán hàng hóa hữu hình và thanh toán qua internet” (Nguyễn Minh Kiều, 2007).
“Kết hợp với sự hiểu biết về các sản phẩm ngân hàng trong phần trên, đó là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 điều dễ hiểu. Các sản phẩm và DV NHĐT là các SP và DV áp dụng CNTT hiện đại,bao gồm các dịch vụ truyền thống đã được nâng cấp và phát triển dựa trên nền công nghệ và DV hiện đại.” (Trần Quốc Đạt, 2006) “Sự phát triển của các DV NHHĐ không thay thế hoàn toàn các SP truyền thống được kế thừa, thậm chí là một bản nâng cấp của các SP truyền thống. Với các SP & DV NHHĐ, mối quan hệ trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng ngày càng bị thu hẹp và thay thế bằng các giao dịch NH tại nhà (Home Banking) và Internet Banking (Internet Banking), ngân hàng điện thoại (Điện thoại / Ngân hàng di động). Vai trò của dịch vụ ngân hàng điện tử 1.
Đối với ngân hàng" Một số lợi ích thiết thực mà dịch vụ NHĐT mang lại cho các ngân hàng cung cấp dịch vụ như: - Giảm chi phí, tăng hiệu quả kinh doanh: “NHĐT có khả năng phục vụ khách hàng trên phạm vi rất rộng, KH có thể thực hiện giao dịch 24/24h trong ngày tại bất cứ đâu. Điều này sẽ giúp NH tiếp cận KH dễ hơn, tiết kiệm được khoản chi phí giao dịch, chi phí phát triển mạng lưới CN, chi phí quản lý. Bên cạnh đó DVNHĐT giúp giảm CP văn phòng, vận hành mạng máy tính cá nhân, chi phí lập và chuyển giao chứng từ giấy. Một máy rút tiền tự động hiện nay được tích hợp nhiều chức năng và được ví như là một NH thu nhỏ, có thể thực hiện giao dịch 24/24h trong ngày và thay thế được nhiều NVNH.
Bên cạnh đó, bằng phương tiện internet/ Web cho phép KH truy cập thông tin thường xuyên hơn, cập nhật hơn, do đó NH giảm được các khoản chi phí BH và chi phí tiếp thị.” (Trần Quốc Đạt, 2006) - Vốn tiền tệ luân chuyển nhanh, nâng cao hiệu quả SD vốn: “Thông qua dịch vụ ngân hàng điện tử, các lệnh thanh toán và lệnh thu tiền của khách hàng nhanh chóng được thực hiện, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ thay đổi nhanh chóng, nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn. Đây là lợi ích mà các giao dịch của ngân hàng truyền thống khó thể đạt được với tốc độ nhanh và chính xác so với LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 các dịch vụ ngân hàng điện tử” (Nguyễn Minh Kiều, 2007). - Gia tăng số lượng dịch vụ, sản phẩm, tăng thu nhập ngoại lãi: “Bên cạnh các dịch vụ ngân hàng truyền thống như gửi tiền, cho vay, mua bán ngoại tệ, các dịch vụ bán buôn khác, NHĐT đã gia tăng và làm phong phú các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tạo ra sự khác biệt giữa ngân hàng này với ngân hàng khác. Đặc thù của dịch vụ NHĐT là phát triển song hành cùng sự phát triển của công nghệ thông tin, các tiện ích từ công nghệ mang lại sẽ giúp cho số lượng các dịch vụ NHĐT cũng tăng theo.
Ban đầu là Internet Banking, PhoneBanking, MobileBanking tiếp đến là HomeBanking,. Ngoài ra còn có các dịch vụ thanh toán điện tử khác cũng làm đa dạng hóa hơn các sản phẩm dịch vụ NHĐT. Sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ thanh toán điện tử sẽ dần thay đổi dòng tiền, chuyển từ nền kinh tế tiền mặt sang nền kinh tế không sử dụng tiền mặt. Dịch vụ ngân hàng điện tử trong tương lai sẽ là xu hướng tất yếu, là đích đến của các ngân hàng bởi vì một khi các dịch vụ truyền thống đã hoàn toàn đóng vai trò mang lại doanh thu cho ngân hàng, dịch vụ ngân hàng điện tử sẽ mang lại doanh thu lớn thông qua việc tiết kiệm chi phí giao dịch cho ngân hàng, cũng như hạn chế nhiều rủi ro tiềm ẩn xuất hiện trong các hoạt động truyền thống.
Dịch vụ ngân hàng điện tử có thể cung cấp dịch vụ chéo. Theo đó, ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán và các công ty tài chính khác để cung cấp các sản phẩm tiện ích khác để đáp ứng nhu cầu của khách hàng cho các dịch vụ liên quan: ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán, du lịch. Đó là tiện ích có được từ công nghệ ứng dụng thu hút và giữ khách hàng sử dụng, quan hệ giao dịch với ngân hàng và trở thành truyền thống khách hàng của ngân hàng.” (Trần Quốc Đạt, 2006) - Tiếp cận với các phương pháp quản lý hiện đại: “Phát triển các DVNHĐT cho phép các NH tiếp cận nhanh chóng các phương thức QL hiện đại. Sự kết hợp hài hòa trong quá trình phát triển DV NH truyền thống và một số DVNHĐT sẽ cho phép các NH đa dạng hóa SP, tăng doanh thu, nâng cao hiệu quả hoạt động và đặc biệt là cải thiện khả năng cạnh tranh trong nền KT hội nhập, tạo ra sự phát triển đồng bộ và tương thích giữa các quốc gia trong hệ thống NH và hệ thống NH thế giới theo tiêu chuẩn quốc tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 “Trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các ngân hàng đặt mục tiêu phát triển thành các ngân hàng đa mục đích, với các mạng lưới và chi nhánh toàn cầu với các dịch vụ đa dạng sẽ mang lại cho hệ thống ngân hàng đó có một cơ sở khách hàng khổng lồ với lợi nhuận tăng đáng kể. Điều này chứng tỏ rằng hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử là cần thiết và phù hợp với xu hướng hiện đại” (Tô Ngọc Hưng, 2009). Lợi ích đối với khách hàng (cá nhân doanh nghiệp) Dịch vụ NHĐT mang lại cho KH, người được trực tiếp hưởng thụ các sản phẩm hiện đại này một số lợi ích khá thiết thực như: - Tiết kiệm được thời gian, chi phí, chủ động giao dịch với ngân hàng: “Thay vì KH trực tiếp đến NH để giao dịch và mất thời gian chờ đợi, KH chỉ cần một máy tính hoặc điện thoại để liên hệ với NH và biết thông tin mới nhất về lãi suất, tỷ giá hối đoái, xem số dư, tài khoản hoặc chuyển tiền. Hình thức giao dịch này sẽ giúp KH tiết kiệm được thời gian và chi phí, giao dịch được thực hiện một cách nhanh chóng, hiệu quả cao, cũng như làm giảm các loại thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, KH có thể thực hiện giao dịch với NH bất cứ lúc nào trong ngày. - Tính năng bảo mật cao, hạn chế nhiều rủi ro trong giao dịch: “Để giữ bí mật thông tin giữa các thực thể nhất định, mọi người tiến hành mã hóa chúng. Thông tin được mã hóa là chuyển thông tin sang dạng mới của mẫu ban đầu, mẫu mới này được gọi là mã hóa văn bản Sau khi người nhận nhận được. Đây là công nghệ bảo mật thông tin trên các ứng dụng và đặc biệt được sử dụng trong các giao dịch ngân hàng điện tử.
Thuật toán mã hóa công cộng được sử dụng trong mã hóa. Công nghệ truyền dẫn và chữ ký số Chữ ký điện tử được sử dụng để đảm bảo sự riêng tư của thông tin. Mã hóa dòng để đảm bảo thông tin được an toàn. Sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử trong việc thanh toán hóa đơn hàng hóa và dịch vụ sẽ an toàn hơn so với việc sử dụng tiền mặt.
Chẳng hạn, những khách hàng sử dụng thẻ ATM để thanh toán hàng hóa khi đi siêu thị sẽ an toàn hơn, nhanh hơn và chính xác hơn khi họ mang tiền mặt đi thanh toán. - Cập nhật thông tin nhanh chóng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 “Lợi ích lớn nhất của ngân hàng điện tử đối với KH là sự tiện ích và sẵn có của DV NH, tiết kiệm được thời gian và giảm đi chi phí về dịch vụ. Ngoài ra, KH được ngân hàng phục vụ với các thông tin cập nhật mới nhất như biến động về tỷ giá, tiêu chuẩn KH là các dịch vụ chuyên dụng và chính xác thay vì phụ thuộc vào các thái độ phục vụ khác nhau của NVNH. Lợi ích đối với nền kinh tế - Cải thiện được khả năng thanh toán ở trên thị trường tài chính: “Dịch vụ NH ĐT trực tuyến giúp quá trình quay vốn diễn ra nhanh hơn và sẽ đáp ứng tốt hơn nhu cầu về thanh toán trong nền KT.